Feeds:
Posts
Comments

Archive for November, 2009

Hai nửa trái tim

Có một trái tim
Một nửa bên này để bon chen cơm áo
Để mang guốc cao
Để đánh môi hồng
Để mỗi sáng ra khỏi nhà
Quyện mùi Chanel gió lộng
Và tối quay về
Chỉ thấy vắng mênh mông

Có một trái tim
Một nửa bên kia vẫn giữ những điều bé nhỏ
Vẫn yêu cúc vàng
Vẫn nhớ lá me xanh
Vẫn muốn dang tay ôm đất trời lồng lộng
Nhón gót chân trần
Đi hết cả mùa Đông

Đừng hỏi vì sao
Hai nửa trái tim vẫn cùng chung nhịp đập
Có hai nửa trái tim để giữ lấy một con người
Để mỗi sáng soi gương
Không thấy mình lạ lẫm
Vì có cả trái tim
Sẽ biết yêu đời …

 

 

Nguyên Tú My

Read Full Post »

Kiều khúc

Tranh: Vivi

Nửa đời một mảnh trăng mê
Đắm lòng trong cõi ê chề thế gian
Thu qua hoa cúc lại tàn
Hồn ta đã thấy võ vàng tuổi xuân
Lời yêu chưa nói lặng câm
Làm sao giữ được cung trầm cho nhau
Phím đàn ai gẩy buông mau
Đã bao lần nhỏ giọt châu cho người
Muộn phiền tơ đứt đàn rơi
Máu đào loang thắm mảnh đời đa mang
Vườn khuya lối cỏ rêu tàn
Nương thân vào chốn sắc ngàn hư không
Khép lòng khoác áo nâu sòng
Tiếng chuông thanh vắng tơ lòng quạnh hiu
Trả người một chút hương yêu
Em xin giữ lại khúc Kiều đa đoan…

Nguyên Tú My

Read Full Post »

Mẹ và Hoa

Tha hương. Nỗi nhớ của người viễn xứ luôn là hình ảnh của mẹ gắn liền với tuổi thơ ấu ngọt ngào. Bài tập văn lớp Sáu, khi đứa trẻ ngồi ê a học thuộc lòng, bắt đầu từ bài học đầu tiên: “Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên một con đường làng dài và hẹp…” Bài học thuộc lòng của ngày nào vẫn còn in đậm trong tâm khảm dù rằng thời gian khắc nghiệt đã làm phôi phai đi rất nhiều điều muốn nhớ. Có phải vì hình ảnh của một buổi mai quá đơn sơ trong sáng trong lòng đứa trẻ hay vì hình ảnh của mẹ quá dịu dàng để đến bây giờ cánh chim bay đã mỏi và lòng người đã mệt nhoài trước những khắt khe của cuộc đời chợt tha thiết muốn được là một đứa trẻ thơ nằm ngủ vùi trong vòng tay dịu hiền của mẹ.

Mang thân ra phố lao xao
Vẫn nghe ngọn gió đồng dao ru hời.

Lòng mẹ luôn yêu thương tròn đầy giữa cuộc sống đầy những hơn thua, gai góc. Mẹ dạy con phải biết nhường nhịn, giữ cái “
tâm” cho tròn trước sự đổi thay. Mẹ hiền lành và dịu dàng quá để cho cha phải luôn đem mẹ ra làm gương mà răn đe đứa con gái cứng đầu. Mẹ đẹp lắm. Tóc dài đến lưng, mượt mà như một giòng suối. Sống ở thành phố mà mẹ vẫn kiếm ra được những quả bồ kết để nấu nước gội đầu. Quả bồ kết dài đen bóng được nướng qua bếp than rồi ngâm vào nước nóng cho ra hết chất nhựa vàng. Nước bồ kết nấu lên dùng để gội đầu làm mượt tóc hơn tất cả những loại dầu gội đầu đắt tiền vào thời ấy. Đến mùa Ngọc lan nở, mẹ hay để dành những đóa hoa trắng muốt có cánh thon dài như những ngón tay của mẹ để giắt vào tóc. Mùi hương lan ngọt ngào thoang thoảng với hương bồ kết là một góc bình yên của đứa trẻ mỗi khi nhớ về mẹ.

Mẹ là hương hoa ngọt ngào của ký ức. Nhớ về mẹ là nhớ về hoa. Hoa ngâu vàng lượm bông nhỏ li ti mẹ hái để ướp trà. Hoa nhài trắng tinh khiết, mỗi lần theo mẹ đi chùa, mẹ hay mua cho con gái đeo vào cổ. Đứa trẻ con chạy khắp sân chùa với vòng hoa trắng ngát hương trên người. Hay mỗi buổi chợ mẹ đi về, tay giỏ nặng trĩu, có bó huệ cầm tay là con biết sắp đến ngày giỗ chạp cúng kiến. Ngày xuân, ngày tết thì không thể thiếu chậu cúc vàng rực rỡ trên sân. Tình yêu của mẹ dành cho hoa đa dạng đến diệu kỳ. Ngay cả những cánh mai vàng rụng rơi trên sân mẹ cũng không cho quét đi. Mẹ tránh nơi hoa rụng và giữ cho đến khi màu hoa tàn úa mới dọn. Mẹ hay nói: “Hoa như đời người con gái. Chỉ có một thời”.

Một thời con gái trôi qua… một thời con gái của mẹ, của con, của tất cả những người phụ nữ mang nặng thiên chức dịu hiền. Và mỗi năm khi tháng Năm đến, luôn là khoảnh khắc nồng nàn giữa muôn hoa mùa xuân trên xứ người vẫn thấy thiếu những hương hoa ngọt ngào của mẹ.

Và hun hút nỗi nhớ ngày xưa…

Nguyên Tú My
Nhạc nền:
http://www.trunghocnguyendu.com/ysb/musicdj_page_w60.html

Read Full Post »

Trái tim trầm hương

Tranh: Bạch Lan

Tôi ôm trái tim câm
Đi qua phiên chợ chiều vắng lặng
Trái tim đau đã cạn khô nước mắt
Không còn nói được điều chân chất ngọt ngào
Giữa biển đời con sóng lao xao
Chiếc thuyền nhân gian
Chở nỗi sầu viễn xứ
Trăng lẻ loi chốn riêng tôi cô lữ
Có nỗi đau nào
Hoá thân thành cánh bướm nhỏ nhoi
Hạnh phúc tôi không chỉ là giấc mơ thôi
Là nụ cười từ những vần thơ lượm lặt
Là nước mắt xuôi về lòng chân thật
Là tiếng thở dài trước cay đắng tị hiềm
Cánh bướm vàng đã chết trong đêm
Khi vội tin vào lời tiên tri của thánh
Cửa thiên đường còn xa thăm thẳm
Đôi cánh khô phơi dưới ánh mặt trời
Tôi biết kiếp người phút cuối cũng đơn côi
Nên rất cần một bàn tay
Tiễn đưa vào vô tận
Người có về cắm nén nhang trầm thanh vắng
Có nhớ về tôi qua làn hương khói xưa…

Nguyên Tú My

Read Full Post »

Quê nghèo

Làng tôi không xa kinh kỳ sáng chói
Có những cánh đồng cát dài, có lũy tre còm tả tơi…
Nằm mơ, mơ thấy thiên hạ tốt tươi
Mơ thấy bên lề cuộc đời, áo dài đùa trong tiếng cười…
( Quê nghèo – Nhạc sĩ: Phạm Duy )
 
 
 
 
 
 
Tôi vùi thêm củ khoai vào đống tro trong bếp, lửa cháy liu riu dưới lớp tro tàn xám mịn. Bà thích ăn khoai nướng vùi tro nóng, khi lớp vỏ bên ngoài chỉ rám cháy, mật khoai chảy ra thơm mùi đường khen khét. Làng tôi nổi tiếng có giống khoai mật này. Củ nhỏ chỉ bằng hai ngón tay nhưng ruột lại chín ngọt đậm đà. Có người đem giống về trồng nơi khác ra công vun xới vẫn không được vị ngọt bùi như khoai trồng trên đất làng tôi.
Trời gần Tết gió heo may thổi về se lạnh, ngọn gió lùa qua khe cửa làm lớp than hồng rực lên toả sángmột góc bếp. Nồi nước mùi già mẹ nấu sẵn để lau dọn bàn thờ cúng ông Công tỏa mùi thơm thoang thoảng trong lành. Sáng nay khi tôi thức dậy mẹ đã đi chợ sớm từ lúc nào rồi. Bát cơm nếp ủ trong chiếc liễn sành và miếng chả chiên mẹ đậy trong lồng bàn trên bàn bếp để dành cho tôi. Bà than thở, già rồi ăn cơm nếp đầy hơi nên chỉ thích ăn khoai. Tôi biết mọi người trong nhà cố ý dành miếng ngon cho tôi hưởng trước. Bố tôi mất sớm nên bao nhiêu tình yêu dành cho người quá cố đổ cả vào đứa con duy nhất trong gia đình. Chưa bao giờ mẹ nghỉ một buổi chợ, quang gánh nhọc nhằn đổ lên đôi vai gầy ngày ngày phơi nắng, phơi sương. Gánh hàng sáo nhỏ bé của mẹ đã đưa tôi đi qua con đường làng bùn đất lên chốn thị thành trọ học cùng người. Những đêm nằm trên căn gác hẹp nhìn ra khung cửa sổ nghe tiếng người nói râm ran dưới phố tôi thấy nhớ quê nhà quay quắt. Nhớ mảnh vườn nhỏ có liếp rào thưa, những buổi trưa không ngủ tôi trốn ra vườn hái trái mồng tơi chín ép làm mực viết. Nhớ câu hát đối của những ngày đập lúa đêm trăng bắt đầu cho bao cuộc tình quê. Mảnh đất nghèo nàn thấm ướt bằng mồ hôi của người dân bình dị, chân chất như mảnh hoa bèo mong manh bên bờ ao trước ngõ. Chuỗi ký ức lưu giữ tha thiết quá, những khi cô quạnh lại mênh mang tràn về khiến tôi chỉ muốn bỏ hết tất cả phù du của cuộc đời để trở về nằm vùi mặt trong mái tóc ngan ngát hương hoa chanh của mẹ.
Cứ mỗi độ Xuân về, cây chanh góc vườn nhà tôi lại trổ hoa trắng lấm tấm đầy cành. Buổi sáng tinh mơ, trước khi đến trường tôi hay hái một cành hoa chanh nhét vào cặp. Hương chanh ngọt ngào tinh khiết, Thoang thoảng vị the ấm khiến Hưng phải hỏi, Ngân giấu gì trong cặp mà thơm thế? Tôi mỉm cười giấu mặt, nghe tim mình đập mạnh trong lồng ngực. Lâu rồi Hưng không hỏi tôi câu ấy nữa. Mẹ bảo Hưng đã vào tu ở trường dòng trên tỉnh, dân trong làng giờ gặp Hưng phải chắp tay “Thưa Cha” cung kính.Tôi không muốn gọi Hưng như thế nên mỗi khi cậu Tín ghé qua nhà trọ đưa quà của mẹ, tôi lục giỏ lấy gói hoa chanh khô giấu ngay vào góc tủ. Cậu Tín không biết điều này, cứ tưởng tôi vẫn thích gội đầu với hoa chanh như ngày nào. Tính cậu thật thà thẳng thắn, nếu biết tôi cứ ém nhẹm giấu đi những gói hoa mà mẹ đã cẩn thận hong khô cất dành cho tôi thì thế nào tôi cũng bị mắng cho một trận nên thân.
Cậu Tín là em của mẹ tôi, làm nghề buôn gạo muối từ Thượng du về miền xuôi. Thỉnh thoảng cậu về qua nhà đem cho tôi những tấm vải lụa thật đẹp. Mẹ không muốn cậu chiều tôi quá, sợ tôi hư sinh tật đua đòi. Cậu chỉ cười và bảo: “ Xu… ân… Xuân… sắc… ch… chỉ… có một thời.” Cậu có bệnh nói lắp từ ngày còn bé. Đến giờ mỗi khi xúc động cậu lại nói lắp bắp như thế. Cả nhà tôi nghe quen rồi cũng thấy thường tình nhưng cô Sứt bán xôi gấc dưới gốc đa đầu làng tính vốn chua ngoa lại thích chòng ghẹo người thì để ý. Chiều qua, cậu chèo thuyền đi ngang nhà cô. Đang ngồi vo gạo ở bờ sông cô cất tiếng chào thật lớn: “Ch… ch… ch… chú… đi đâu… đâu đấy?” Cậu cũng không vừa đối đáp lại ngay: “Hôi hi hoa hàng bà Hứt hua hắm hôi hất hây!” thế là cô tru tréo lên, sư cha cái đứa chất bầm chết giẫm nói cạnh nói khóe bà. Cái môi sứt thường ngày vốn ngọng nghịu tiếng được tiếng mất nay tuôn ra một tràng tế sống, tế chết văn vẻ vần điệu thô tục nhưng lại rất lưu loát. Vô phúc lại có tên bố tôi trong bài văn tế sống ấy. Cậu tắp ngay thuyền vào gần bờ, xắn quần lội xuống con sông cạn đầy bùn, túm lấy đầu cô dìm xuống nước mấy cái cho chừa thói hỗn hào. Gạo đổ cả ra sông, chiếc rá con trôi lềnh bềnh trên nước. Lũ trẻ chăn trâu đứng trên bờ vỗ tay cười hể hả. Chúng ghét cô từ lâu nhưng lại sợ thói nanh nọc chua ngoa. Nhìn cô ướt lóp ngóp, rũ tóc bết đầy bùn đi khuất vào nhà, chúng mới dắt nhau đi, thì thầm bảo: “ Phen này thì cô Sứt chừa thói đanh đá nhé!”
Củ khoai trong bếp đã lên mùi chát thơm lắm rồi. Tôi cời lớp than gắp khoai đặt vào đĩa cho bà ăn sáng. Ngoài sân trời hưng hửng rám nắng hồng lên đụn rạ vàng tươi. Chim chích chòe ríu rít trên cây, hương chanh ngan ngát len vào tận trong nhà tỏa mùi the ấm thật dễ chịu. Giờ này mọi người đã ra đồng cả, lũ trẻ đánh trâu lội bì bõm dưới vũng nước cạn của cánh đồng đang cấy còn lấp xấp nước. Trên con đường đê hàng tre già nghiêng nghiêng lá rì rào trong nắng sớm. Vài người đàn bà quang gánh tất tả gọi nhau ơi ới, đi nhanh nhanh cho kịp buổi chợ phiên thôn Hạ. Có tiếng trẻ con léo nhéo ngoài sân. Tôi hé tấm liếp cửa nhìn ra ngoài. Thì ra cô Sứt đang nằm trước sân nhà tôi để ăn vạ chuyện chiều qua. Cô trùm chiếc chiếu rách lên người, tóc tai rũ rượi nằm rên hừ hừ như người sắp chết. Cô hờ hay lắm, tiếng trầm tiếng bổng nghe như hát. Sao lại có người một chữ bẻ đôi không biết mà khi than khóc lại văn vẻ vần điệu đến thế. Cứ cụ thượng, cụ bá, cụ tổ đã khuất từ thời tám hoánh nào rồi vẫn được cô mời trở về đông đủ trước sân nhà tôi để phân xử cho ra ngành ra ngọn. Bà từ ngoài vườn đi vào, tay ôm cái rổi đầy rau dền đất rễ dài ngoẳng, “ Cái Sứt ăn vạ gì thế?” Tôi bảo: “ Cô ghẹo cậu Tín nói lắp nên cậu đánh cho.” Bà chép miệng thở dài: “Khẩu nghiệp tai ương!” rồi đi xuống bếp ngồi nhặt rau. 
Tôi biết chiều nay thế nào cũng có món canh rau dền nấu cua đồng. Mùa đông chẳng có thứ rau nào mọc được ngoài mớ rau dền đất nở đầy hoa xám lấn ra cả liếp rào mồng tơi của bà. Thỉnh thoảng mẹ mua được mớ cua đồng của bọn trẻ chăn trâu mót được giã ra nấu canh ngọt ơi là ngọt. Gạch cua chưng váng mỡ đỏ sánh. Trời rét đậm mà được một bát canh cua nóng, vài quả cà muối xổi thì bà cũng ăn được hai bát lưng. Mười lăm tuổi bà đã lấy chồng. Làng nghèo. Đồng chiêm, ngày hạ cứ cắm mặt xuống đất với ruộng lúa, nương khoai. Đi làm đồng lúc nào cũng đem theo cái rọ bên người may ra vớt được con cua, con cáy làm bữa tối. Bà bảo vì cậu Tín đẻ rớt trên cánh đồng quê ấy nên từ bé tính khí đã ngang tàng, ngỗ ngược. Cậu không thích học, suốt ngày cứ lê la chơi bời nghịch ngợm, hết tổ tôm đến tứ sắc. Ông tôi bàn, phải cưới vợ cho cậu vào nề nếp, cha mẹ không dậy được để vợ nó dậy thì may ra. Ngày đi hỏi vợ, cậu diện quần áo chỉnh tề ra đứng giang tay cho ông xét khắp người. Cẩn thận đến thế mà cậu vẫn giấu được cây ná bắn chim làm bằng cành ổi đem qua nhà vợ. Các cụ thông gia ngồi với nhau chưa được tuần trà đầu, vườn nhà ông bố vợ tương lai có bao nhiêu na chín cậu tỉa rụng đầy sân. Bố vợ giận lắm nhưng còn nể ông tôi không mắng. Qua bữa cơm trưa, cậu đánh nhau với thằng em vợ tím cả mặt mày. Ông tôi lôi cậu về lấy roi mây quất vào mông nghe đôm đốp như đập vào ván gỗ. Kéo quần xuống, thì ra cậu đã nhanh chân chạy trước ra vườn lượm hai cái mo cau độn vào mông để đỡ đòn đau. Ông đành chịu thua thả cậu tự do giang hồ tứ chiến.

Lang bạt được ít lâu, bặt tăm tin tức. Cả nhà cứ ngỡ cậu đã theo phu vào miền Nam cạo mủ cao su hay bỏ xác ở nơi rừng thiêng nước độc nào rồi. Ngày cậu lù lù trở về, ông tôi đã hoá người thiên cổ. Cậu cúi mặt thắp lên bàn thờ ông ba nén nhang, mắt đỏ hoe. Từ đó cậu không đi xa nữa, chỉ quanh quẩn xuôi thuyền buôn bán quanh chợ huyện, được đồng nào lại dấm dúi đưa mẹ tôi: “ Chị dành cho cháu ăn học.” Mẹ tôi dẫy nẩy: “ Cậu phải dành tiền lầy vợ đi chứ, lông bông hoài đâu được!” Cậu cười xòa: “ Con là nợ, vợ là oan gia. Chị không nghe thấy à?” rồi lại đi ra đầu thuyền thổi sáo vi vu theo gió với mây lan qua phố huyện.

Huyện lỵ chỉ cách làng tôi có một con sông. Đêm đêm đường xe hỏa đi ngang qua phố kéo vang tiếng còi tàu râm ran buồn bã. Trẻ con ở làng tôi đứa nào qua được trường làng thì phải sang phố huyện đi học. Làng tôi nghèo, miếng ăn chưa đủ, trẻ con thất học thì nhiều nên một đứa con gái như tôi từ trường huyện được đưa lên tình học là điều vinh hạnh cho cả họ. Ngày ấy tôi vừa mới qua tuổi mười tám. Cậu Tín tay xách chiếc va li quần áo, lưng đeo ba lô dẫn tôi đi qua con đường đất men theo rìa làng. Trời tờ mờ sáng, ngôi sao Mai còn lấp lánh trên nền trời sau bóng cây đa đầu đình. Đã có vài bóng người dắt trâu đi làm đồng sớm. Tiếng trâu thở phì phò, tiếng chân người giẫm bì bõm trên thửa ruộng nông choẹt nước. Đi ngang qua con đìa cạn trơ bùn, có bóng người đang lúi húi nhấc cái rọ đơm cá. Khi chúng tôi đi qua, người ấy ngừng tay ngẩng lên nhìn theo ngỡ ngàng. Đó là lần cuối tôi gặp Hưng trước khi rời làng lên tỉnh học.

Con tàu rời khỏi sân ga huyện lỵ hiu hắt mang theo đôi mắt của người con trai ở quê tha thiết buồn tênh…

Tháng Chạp tôi trở về làng ăn Tết. Trên tàu người đứng người ngồi, quang gánh ngổn ngang. Bánh xe chạy xiết trên đường ray, hun hút lướt qua những cánh đồng vắng. Xa xa có vài căn nhà chìm trong cây cối xanh um. Tôi ngửi thấy mùi rơm rạ quyện lẫn với mùi đất nồng ẩm mốc thật quen thuộc. Bước xuống sân ga mẹ đã đứng đón tôi nón lá cầm tay cười rạng rỡ. Đuôi mắt mẹ rạn đầy những nếp nhăn trên gò má rám nắng. Lam lũ đã làm cho xuân sắc một thời phai nhạt hết cả rồi. Mẹ cứ nắn lấy tay tôi khen con gái lớn hẳn ra.

Trên đường về mẹ rủ tôi ghé qua chợ mua sắm hàng Tết. Phiên chợ huyện họp ngay trên miếng đất trống ở cuối phố, đông đúc ồn ào. Người ta dựng lên những dãy lều sơ sài kết bằng cỏ tranh rơm rạ, bán đầy những mặt hàng cho ngày Tết. Gánh lá rong, ống nứa lúc nào cũng ngồi bên cạnh nhau. Hàng gạo nếp, hàng đậu túm tụm vào một chỗ. Các cô gái thì xăm xoi vào những gánh hàng xén, chọn mua chiếc lược mới hay hộp sáp thoa môi. Hàng nhuộm thật vui mắt với những dải thắt lưng đầy màu sắc. Cô gái nào năm mới cũng gắng chắt chiu sắm cái thắt lưng màu hoa hoè, hoa lý để dành ra giêng đỏm dáng đi xem hội với chị em bạn bè. Đông đúc trẻ con nhất vẫn là hàng pháo Tết. Chúng thèm thuồng nhắm nhìn những hàng dây pháo đỏ rực treo đầy trên chiếc sào tre. Mới giữa tháng Chạp mà đã nghe tiếng pháo râm ran khắp chốn. Đứa nào cũng giấu trong túi áo vài chiếc pháo mót được, lâu lâu đem ra đốt tách đùng rồi cười hể hả với nhau. Lôi cuốn tôi hơn hết vẫn là hàng của ông lão bán những con tò he bằng bột. Dưới chân ông cụ là một cái thùng gỗ nhỏ có những gói bộ đủ màu sặc sỡ. Ông lấy một thanh tre nhỏ, dùng đôi tay thoăn thoát khéo léo nặn hình cô tiên duyên dáng áo lụa bay phất phới: ông Quan Công râu dài uy nghi, bụng to mặt đỏ gay; con gà trống vươn đôi cánh rộng màu sắc chói chang. Tôi níu tay mẹ đứng lại ngắmnhìn say mê. Mẹ bật cười, nhắc chuyện ngày xưa khi tôi còn bé. Đi chợ về mẹ mua cho tôi một con mèo nặn bằng bột. Tôi quý lắm bỏ nó trong túi áo cả ngày. Đến tối đi ngủ lại để quên nó trên bàn. Sáng ra chuột gặm mất một khúc thế là tôi khóc tỉ tê cho cả ngày. Cậu Tín phải đi qua chợ huyện tìm mua đền cho tôi những con giống mới, đầy đủ mười hai con giáp.

“Làm gì mà ngồi thừ người ra thế hả con?” Tôi giật mình nhìn lên, mẹ đã về từ lúc nào, vội đứng lên đón lấy cái thúng trong tay mẹ và liếc nhìn ra cửa. Cô Sứt đã thôi nằm vạ, cô cắp chiếc chiếu rách vào người, đứng thập thò ở trước sân. Mẹ đưa tôi cái rá: “Con vào xúc đền cho cô rá gạo bị đổ chiều qua.” Tôi xịu mặt: “Cô ấy hỗn chứ có phải lỗi cậu đâu mà đền!” Mẹ vẫn không rời tay xếp lại mớ hàng mã, nón áo bầy cúng trên bàn thờ ông Công, thong thả nói: “Cô ấy sai đã đành. Chẳng lẽ mình cũng sai theo sao. Hơn thua gì nhau một tiếng nói hả con?” Nghe mẹ nói có lý tôi đành ôm rá đi xuống bếp mở thúng xúc gạo. Nghĩ bụng còn ấm ức lắm, tôi đi ra góc bếp loay hoay tìm bao trấu. Bà đang ngồi xoay lưng lọc riêu cua cạnh sàn nước khẽ bảo: “Thùng trấu ở dưới gầm chạn bát đấy. Xong rồi nhớ vãi cho đàn gà một nắm cho bà.” Tôi tủm tỉm cười vì bị bà nắm trúng nọn. Tôi bới gạo ra cho trấu xuống dưới, rồi phủ lên lớp gạo mới để mẹ không nhìn thấy. Phen này cho cô tha hồ nhặt trấu nhé! Đàn gà đang đi kiếm ăn ngoài vườn được tôi hào phóng vãi cho nắm trấu thật to, chúng chạy xổ cả vào nhau táo tác ầm ĩ.

Buổi chiều, mẹ sai tôi đem chiếc thúng đựng con cá chép sống vừa cúng ông Công đi ra sông phóng sinh. Nước trong veo, lăn tăn ánh bạc dưới cơn mưa phùn nhẹ nhẹ tỏa hơi lên mát lạnh. Lùm cỏ dại bên sông phất phơ những cánh hoa vàng óng như đàn bướm bay lượn trong chiều. Tôi nhìn thấy vài người cũng đen cá ra sông thả. Thường nhà nghèo khi cúng xong người ta giữ cá lại để ăn. Bà bảo, cá chết thì làm sao ông Công biết đường về trời! Thân phận ông ấy cũng buồn như cái xó bếp đầy bồ hóng của nhà tôi. Cả năm chỉ được một lần thoát thân ra khỏi hai bà Táo nhưng lại phải đi thóc mách chuyện người. Oái oăm thế! Tôi mang tội vạ nhiều lắm nên cũng chẳng tha thiết gì đến chuyện ông Táo có đi đến nơi về đến chốn hay không. Bà vẫn bảo, sinh ra làm kiếp người ai cũng có tội cả. Tuổi trẻ vướng phải lỗi lầm vì ngông cuồng dại dột, tuổi già mang phải lỗi lầm vì nhiễu sự nhỏ nhen. “Muốn hết tội thì lội xuống sông, con ạ!” Tôi không nghĩ nhiều về điều này vì tôi còn trẻ lắm, đầy những ngông cuồng để vướng phải lỗi lầm. Bà tôi cả đời không bước chân ra khỏi lũy tre làng, bà sống một cuộc đời bình dị mải miết bên những luống khoai, ngô sắn. Trái tim của bà hạnh phúc khi nhìn thấy ruộng lúa chín vàng, con cua con cáy bên bờ ruộng. Sẽ không bao giờ tôi sống được một đời sống tưởng mảnh dẻ nhưng lại bền chặt với mảnh đất nơi mình đã sinh ra như thế. Tôi đã bước chân ra khỏi vùng quê nghèo khó để đi đến một phương trời khác. Hạnh phúc hơn hay không tôi chưa biết được. Nhưng rất khác. Đủ để cho tôi, cho Hưng phải đánh đổi tất cả, kể cả tuổi trẻ của mình.

Nhìn ra dòng sông, con nước trôi bâng khuâng qua làng về phía chợ huyện. Thấp thoáng bóng người dắt trâu về thong thả trên đường đê. Tiếng người vo gạo, đập rá bồm bộp bên cầu ao, xen lẫn tiếng người mẹ gọi đứa con ham chơi đâu đó trở về vang vang trong chiều muộn. Làn khói bếp ẩm mùi rơm rạ bốc lên từ những nếp nhà tranh, mùi gạo mới nhà ai vừa chín tới thơm lan trong chiều. Tôi lội ra ven bờ nước ngập đến nửa chân, nghiêng thúng thả con cá chép xuống sông. Bóng vẩy cá sáng trắng quẫy mạnh giòng nước dưới chân tôi rổi lẩn bơi đi mất hút. Xa xa tôi nghe tiếng sáo của cậu Tín mênh mang dìu dặt xuyên qua ráng mây chiều tím nhạt hoàng hôn như mang cả nỗi niềm khát khao của một loài chim muốn tung đôi cánh bay ngược lên thượng nguồn, mải miết tìm đầu con nước. Và tôi nhận ra rằng, như loài chim đến mùa di trú, dù đi đến đâu mảnh đất quê mùa này vẫn tiềm tàng một sức sống diệu kỳ để mỗi năm, khi mùa Xuân đến có một loài chim tha hương sẽ tìm đường bay trở về tìm nơi tồ ấm.

 

Nguyên Tú My

Read Full Post »

Cách đây vài năm, nhờ vào màng lưới internet mà tôi đã tìm ra được một số người bạn cũ. Khỏi phải kể lại niềm vui ngày đó như thế nào vì ít nhất bạn cũng đã có được một lần qua cùng tâm trạng như tôi. Nhớ tới câu nói đầy tính toán học cơ bản mà ai đó đã ví von khi họ nói về “tình bạn”. Niềm vui chia đôi niềm vui nhân đôi, nỗi buồn chia đôi buồn vơi một nửa. Thế là bao cuộc họp mặt trên phone, email, chát chiếc… cứ nổ ra ầm ầm. Cũng nhờ vào đó đã có nhiều lúc tôi vui lắm, tuởng như đang bắt gặp lại được mình của những năm áo trắng. Bất ngờ, kỷ niệm như mớ hoa sóng vụt ào lên rực rỡ và chợt vỡ tan vào biển cả mênh mông. Ngày đó tôi cũng biết trước, cuộc vui nào cũng sẽ tàn nhưng sự lụi tàn này đến quá bất ngờ, phũ phàng đến độ tôi không thể nào hình dung được. Cái vui rực rỡ của ngày hội ngộ chưa kịp tan thì sự chia ly đã đến lạnh lùng như một lưỡi hái của tử thần. Những giận dỗi, ghen ghét, mặc cảm, đố kỵ… đã đến nhanh hơn những giọt nước mắt mừng vui chưa kịp khô đi. Những gáo nước lạnh lùng dập tắt lòng tin yêu vào con người, vào hai chữ “tình bạn”. Hình ảnh tôi đã được xem, lời nói thân thiết tôi cũng đã được nghe nhưng lấy gì để tôi có thể tìm lại được sự vô tư trong sáng của tình bạn đã bị mất đi?

Có người đã trở về với cát bụi. Có người lại mênh mang độc hành trên đường đời. Có người còn ở lại cố gắng níu giữ một chút gì để mong đem lại một nụ cười hay một chút niềm tin vào tình người để ít ra những kẻ bi lụy, đa cảm như tôi có nhìn thấy được chút tình mong manh nào đó không. Tôi đa tạ tấm chân tình ấy. Tình cảm của họ chân thành hơn tôi nhiều. Lòng tin của họ sâu sắc hơn tôi nhiều nên tôi đành âm thầm làm kẻ chặt cầu rút ván, trốn mình vào trong cái ốc đảo nhỏ hẹp này.

Chia tay nhau đã mang nhiều tổn thương, nhưng nắm lại tay nhau sẽ có nhiều bất trắc. Tôi đã từng được nắm những bàn tay tưỏng sẽ cùng dắt díu nhau đi mãi trên miền ký ức học trò trong sáng ấy. Đến một ngày tỉnh giấc, tôi thấy mình bỗng một mình chênh vênh trên chiếc thuyền ký ức đi trở về bến thời gian. Chơi vơi giữa dòng đời mà tình người là con sóng phũ phàng đã đẩy tôi rời xa bến. Có nhiều bàn tay đã giúp tôi hàn gắn lại mảnh vỡ của con thuyền để tôi có thể tiếp tục cuộc hành trình. Tôi đơn độc đi tiếp trên con đường mà mình đã chọn. Cô đơn nhưng bình lặng. Đó là sự lựa chọn cuối cùng sau khi tôi hiểu ra rằng, thà quên đi chiếc gương đã vỡ, còn hơn cứ phải ngồi nhìn những mảnh vỡ không bao giờ hàn gắn lại được.

Tôi vốn yêu đạo lý của nhà Phật vì lòng từ bi hỉ xả của tôn giáo này. Tôi không mang nặng oán thù với người đã gây ra nỗi bận lòng cho tôi. Cứ tự an ủi mình xem như là một vận rủi trong đường đời. Nhưng tôi tránh con đường mà mình đã đi trước đây, sợ gặp phải người đã xô mình té. Như một đứa trẻ không bao giờ lớn. Tôi đã hồn nhiên đi trên con đường đầy hoa lá mà quên rằng rễ gai vẫn mọc đầy dưới chân mình. Đến khi vấp té, tôi mới chợt hiểu ra rằng mình cũng vẫn chỉ là một đứa trẻ vụng về ngơ ngác, đặt quá nhiều niềm tin vào con người. Coi vậy mà tình người cũng mong manh ghê gớm. Mong manh vì người ta đã chạm vào nhau, tưởng chỉ là lớp vỏ trầy trụa bên ngoài nhưng mũi xoáy thì đau thấu ruột. Mong manh vì người ta đã vội sớm quên đi những lời nói gai góc đã làm tổn thương nhau. Trả treo, hơn thua lại từng lời từng chữ thì tôi không làm được nhưng bao nhiêu đêm là bấy nhiêu trăn trở, thất vọng não nề. Nước mắt là những điều nhìn thấy, còn những điều không nhìn thấy được thì sao? Tôi đã trải qua ngàn đêm như thế, như vậy bạn bảo tôi cứ tin, cứ yêu như những ngày xưa ấy thì làm sao tôi có thể làm được.

Vậy thì mảnh ký ức của tôi cứ ở lại mãi vào những năm xửa, năm xưa. Ngày ấy tôi và bạn còn trẻ lắm đã cùng chung một trường, cùng học một thầy, cùng nhìn cuộc đời bằng những đôi mắt trong veo. Để giữ cho mảnh ký ức ấy còn được trong sáng mãi, tôi xin được đóng chiếc hộp quá khứ này lại cho riêng tôi, cho những người mà tôi còn có thể gọi bằng tiếng bạn.

Cứ vậy nhé. Tạm biệt…

Nguyên Tú My

Read Full Post »

Cú đấm

1(phuong1)

Tháng Chín. Phượng đã gần tàn. Màu đỏ ối của những cánh hoa rơi tan tác rải khắp sân trường. Sau ba tháng ngủ yên, ngôi trường lại cựa mình thức dậy bởi tiếng guốc lách cách của bọn con gái và nhất là tiếng huỳnh huỵch bước chân của lũ con trai. Trong bầu không khí nhốn nháo của đầu năm học, cầm tờ giấy vào lớp trong tay tôi lò dò qua lại trên dãy hành lang tìm lớp. Gặp một tên ra dáng Thổ Địa chỉ cho tôi lớp cuối cùng nằm trong góc hành lang, kèm theo một nụ cười ranh mãnh “Chúc may mắn nghe ông bạn!” Tôi cũng chẳng kịp vận dụng trí thông minh của mình để suy nghĩ lời hắn vừa nói vì tiếng chuông vào lớp đã điểm. Kinh nghiệm bao năm mài đũng quần trên ghế nhà trường cho tôi biết ngày đầu tiên bao giờ cũng quan trọng. Phải vào sớm để giành chỗ ngồi. Và bao giờ vé hạng nhất cũng là những bàn cuối lớp! Mà có cho tôi ngồi bàn đầu cũng không được. Tôi to lớn dềnh dàng, ngồi bàn trên tôi có cảm tưởng như ăn gian thiên hạ. Ăn uống thì như voi cuốn lá. Cả nhà ăn cơm vẫn phải dọn riêng cho tôi một cái tô xe lửa. Chả bù cho con nhỏ em gái tôi. Nó bé như con chuột nhắt. Ăn uống lại lảnh khảnh. Nhìn nó ăn cá lựa từng cái xương mà tôi sốt cả ruột. Gắp nguyên cái đầu cá nục chiên dòn, tôi bỏ tọt vào miệng nhai rau ráu, nuốt ực trước con mắt tròn xoe đầy thán phục của nó. Như buổi sáng hôm nay, trước khi đi học, để minh họa cho bài diễn thuyết “Khoẻ vì nước” tôi đã xơi gọn ba trái chuối và một ly cối sữa trong nháy mắt. Và bây giờ, ngay trong giờ cao điểm đầu năm, cái bụng của tôi nó đang sôi lên ùng ục như sắp có bão cấp bốn, thế mới phiền! Tặc lưỡi, thôi cứ chờ vào lớp quăng quyển tập lên bàn giữ chỗ trước rồi rủ thêm vài thằng đầu trâu mặt ngựa chạy đi thăm bác Tào cũng vẫn còn kịp mà.

Vừa bước chân qua cửa lớp, tôi chợt sững lại. Giật ngược trở ra nhìn kỹ cái bảng lớp bên ngoài cửa rồi nhìn vào tờ giấy trên tay. Mắt tôi mới đi khám tuần trước 20/20, sáng hơn cái đèn pha. Chẳng lẽ tôi lầm? Có tiếng cười khúc khích vang lên trong lớp, lẫn trong đó là một cái giọng lanh lảnh: “Come in, welcome to the club!” Trời ơi, tôi lọt vào một lớp toàn là con gái! Chỉ có một dãy bàn cuối là có vài tên mặt mũi lấm lét ngồi khép nép như cô dâu mới về nhà chồng! Thấy tôi đứng đực ra như Từ Hải “thiến thoái lưỡng nan”, một thằng vóc dáng nhỏ thó thương tình kéo tôi vào bàn nó, thì thầm: “Tui biết, tui biết, tui cũng không ngờ!” Tôi thầm rủa số mình sao đen vậy, còn có một năm cuối cùng mà cũng không được suông sẻ. Hèn chi ông thầy tướng bạn ba tôi cứ lắc đầu, chép miệng chèm chẹp khi chấm lá số tử vi cho tôi hồi năm ngoái, bảo rằng tôi có cái sao Linh tinh, lục cục gì đó đóng ngay cung Mệnh nên triệt hết đường công danh! Tôi căm thù số phận. Tôi căm thù bọn con gái loi nhoi, lóc nhóc ngồi bàn trước cứ chíu cha chíu chít như một đám chuột. Mười một năm kinh sử, không có con gái tôi vẫn sống vui, sống khoẻ. Có chết con cào cào nào đâu?

Nhưng tôi cũng chẳng có thời gian để suy ngẫm cho cái thân trai mười hai bến nước của mình vì cái bụng phản chủ của tôi nó đang sôi ùng ục. Ngồi chưa nóng chỗ đành phải vác cái mặt chai lên xin phép thầy đi ra ngoài. Sau lưng tôi vẫn có những tiếng cười khúc khích đuổi theo. Tôi muốn độn thổ nhưng vẫn phải cắn răng cho qua cơn “bĩ cực”.

Bài học đầu tiên quá đau thương nên sáng hôm sau, mặc dù mẹ tôi cố lo dỗ dành con nhỏ em gái trong bữa điểm tâm và đem tôi ra làm gương sáng. Tôi vẫn lắc đầu quầy quậy trước những quả chuối chín vàng thơm phức mà ôm bụng đói đi học, để mặc mẹ tôi trố mắt ngạc nhiên vì sự thay đổi của thằng con trai vốn phàm ăn có tiếng.

Tôi đi sớm, lởn vởn ở sân trường nhìn mấy tên con trai lớp khác hùng hục đá banh mà thở dài sườn sượt. Năm tiếng đồng hồ trong lớp chịu đựng với đám “ma nữ” đó đã quá đủ với tôi rồi. Tôi quý những phút giây “tại ngoại” như thế này. Đang mơ màng tự nhiên tôi cảm thấy cái đẩu húi cua ba phân của tôi ươn ướt. Lấy tay vuốt tóc. Trời ơi, tôi là nạn nhân của cái trò phun nước miếng từ trên lầu xuống! Ngẩng lên nhìn, không một bóng người mà vẫn nghe được tiếng khúc khích ngay cửa lớp tôi. Thế này thì quá lắm tồi! Tức nước vỡ bờ, tôi hùng hục lao vào lớp và thấy ngay mình rõ là cái đồ ngớ ngẩn. Tang chứng đâu để mà cãi nhau với mấy cái miệng chuyên để nhai cóc ổi chấm mắm ruốc kia? Một cái giọng lanh lảnh quen thuộc cất lên trong góc bàn nhất: “A, ông Táo đến rồi!” Hết chỗ nói! Da tôi tuy không được sáng sủa như mấy cô đào trong phim Âu Mỹ nhưng cũng đâu đến nỗi nào, chỉ hơi sạm như mấy đứa nhỏ miền biển suốt ngày giang nắng ngoài đường. Bị kêu là ông Táo là điều tôi thù ghét nhất. Tôi quắc mắt quay lại. Bên cửa sổ, lấp lánh dưới ánh nắng ban mai, nhữn giọt sương còn đọng trên nhánh điệp vàng nhảy múa trong mắt. Tiếng chim ríu rít trong sân trường bỗng ngừng hót. Mọi thứ chung quanh tôi trở nên mênh mông mơ hồ… Trong phút chốc tôi cảm thấy nghẹt thở như vừa bị giáng một quả nốc-ao ngay vào ngực bên trái! Có một cái gì miên man khó tả lan dần trong tôi gây nên một cảm giác choáng váng kỳ diệu. Một con nhỏ ngồi trong góc bàn nhất đang giương cặp mắt sắc lẻm lên nhìn tôi thách thức. Kinh nghiệm đánh đấm thì tôi có thừa. Mà đánh đấm với ai chứ? Chắng lẽ sắn tay áo mà chiến đấu với con gái ư? Hơn nữa, con gái ở lớp này nổi tiếng là loại chẳng ăn ba ngày không hết. Trong cái tình hình không được sáng sủa này, tôi đành nhún vai tỏ vẻ coi thường, đi thẳng về bàn mà vẫn cảm thấy lành lạnh sau gáy!

Bài học thứ hai thông qua. Nếu muốn yên thân thì cứ phớt lờ “chúng nó”. Vậy mà ngồi ở cuối lớp sao mắt tôi cứ dõi ra cái góc bàn nhất bên cửa sổ. Hình như cây phượng vĩ ở góc bên đó đẹp nhất thì phải. Bỗng dưng tôi yêu hoa lá hơn nhiều. Thế giới quanh tôi như đang chuyển động và thu hẹp lại quanh cây phượng vĩ đã qua một mùa hoa chỉ còn lại thấp thoáng một bóng dáng nhỏ nhắn có mái tóc dài nghiêng nghiêng bên khung cửa. Ở nhà, tôi bắt đầu để ý đến tiếng chim hót ngoài sân vào buổi sáng, nghe hay đến lạ. Tôi thẫn thờ ngắm nhìn những cụm mây xanh trôi lững lờ trên bầu trời. Mẹ tôi dường như cũng nhận thấy sự thay đổi của tôi. Có bao giờ tôi thèm ngó đến cây cỏ ngoài vườn đâu. Họa chăng chỉ nhìn toàn cây nào có trái rình cho vào miệng. Vậy mà bây giờ ngày ngày tôi chăm chỉ xách nước tưới từng cành hồng, nhánh cúc như một gã từ quan đã chán ngán chuyện nhân gian mà vui thú điền viên.

Một buổi chiều đang cặm cụi bắt sâu trong đám lá. Có tiếng khúc khích ngoài bờ rào. Tiếng cười nghe quen thuộc lắm. Ừ, ngay cả tiếng cười cũng nghe quen đến lạ. Một bàn tay thọc qua cái hàng rào thưa trước nhà tính hái trộm cành hồng đẹp nhất mà tôi đã tốn công bắt sâu, tưới nước mấy ngày nay. Nắm chặt lấy bàn tay đó, bắt quả tang rồi nhé! Qua khung hàng rào trắng một cặp mắt đen láy quen thuộc (vẫn sắc lẻm như dao cạo râu của ba tôi) ngỡ ngàng một thoáng. Sao đi đến đâu cũng gặp ông Táo thế này! Một giây, hai giây, ba giây… dường như có một thế kỷ dài đang trôi qua. Đến khi bàn tay ấy rút ra rồi mà tôi vẫn còn ngẩn ngơ như vừa đánh mất một điều gì thiêng liêng lắm.

Nhưng “cái điều thiêng liêng” ấy vẫn không để cho một gã từ quan như tôi được yên. Vào trường “Thiêng liêng” cứ loanh quanh tìm cách làm cho tôi bực mình. Vì to con tốt tướng nên trong giờ thể dục tôi được chọn làm captain thay thầy hướng dẫn tập. “Thiêng liêng” đứng ngay hàng đầu. Hễ tôi hô “quay phải” thì “Thiêng liêng” quay trái mà tôi hô “quay trái” thì “Thiêng liêng” lại quay phải! Cứ thế làm rối loạn hàng ngũ lên. Rõ ràng là cô ta cố ý để phá tôi. Đến một hôm bực quá, tôi lỡ tay ký vào đấu “Thiêng liêng” một cái. Có lẽ hơi đau! Mà tôi cũng đâu cố ý ( ở nhà tôi đập bể chén hoài mà). Sững sờ, cặp mắt đen láy đó ngước nhìn tôi đầy hờn dỗi. Thôi rồi, con dao cạo sắc lẻm giờ đây đã biến thành con dao phay chặt xí quách của chú Tàu bán thịt quay ngoài đầu ngõ mà mọi khi đi ngang qua tôi vẫn trầm trồ khen ngợi. Và tôi biết con dao phay ấy chỉ còn chờ ngày đem tôi lên làm lễ tế thần.

Mấy ngày sau tôi phập phồng chờ đợi phản ứng của đối thủ nhưng chẳng thấy gì cả. Gặp tôi cặp mắt đó cứ lờ đi, lạnh như tiền! Cứ như tôi là cái cột điện bên đường. Tôi bực bội lắm, thà có gì cứ nói quách ra vẫn còn dễ chịu hơn, chứ chơi cái trò chiến tranh lạnh như thế này quả là giết nhau. Tôi thấy hối hận vì cảm thấy mình đã phản ứng hơi mạnh tay trong buổi sáng tập thể dục ấy. Trong suốt nhiều tuần lễ sau tôi cố tìm ánh mắt của cô nàng để xin lỗi. Nhưng con gái quả có cái tật xấu là thù vặt và giận dai. Cuộc chiến tranh lạnh giữa tôi và nàng “Thiêng liêng” vẫn chưa chấm dứt.

Tháng Mười hai đến thật nhanh. Tôi học càng ngày càng sa sút, vì cái bộ óc rất giới hạn của tôi không chỉ còn nghĩ đến việc ăn chơi và học như trước. Bóng dáng nhỏ nhắn với mái tóc buông dài chấm lưng của con nhỏ ngồi bàn nhất đã chiếm gần hết cái của tôi rồi. Tôi ít phá phách hơn, và bắt đầu biết “sợ” con gái từ khi bị bóng dáng ấy hớp hồn. Giờ đầu tiên của thứ Sáu là giờ Toán Tích phân. Tôi chúa ghét môn này. Thêm vào ghét môn học, tôi sợ luôn cả cô giáo phụ trách bộ môn. Cô cũng là giáo viên chủ nhiệm của lớp. Thứ Sáu hôm ấy, sau khi vẽ rồng, vẽ rắn trên bảng để ôn lại giờ học trước, cô giáo chầm chậm quay xuống đám học trò đang ngồi lơ mơ nghe cô giảng. Đám học trò, nhất là tôi, phục cô tài viết mấy cái dấu tích phân đẹp và bay bướm như một người họa sĩ vẽ hí họa, và mấy cái vòng tròn vẽ bằng tay tròn hơn xài com-pa. Cô nhìn xuống lớp, lấy bàn tay đầy nghệ thuật ấy chỉ ngay mặt tôi. Lúc ấy tôi bận nhìn về phía cửa sổ có cây phượng vĩ mà tôi cho là đẹp nhất. Phải vài giây sau tôi giật mình, mới biết mình là nạn nhân. Có lẽ mặt tôi hơi tái lại. Vác tấm thân nặng trịch lên bảng, tôi không giải được đến hai dòng của bài toán. Bọn con gái bắt đầu xì xào. Mấy đứa con trai trong lớp lại câm như hến. Liếc nhanh đến góc bàn nhất cạnh cửa sổ, tôi thấy “Thiêng liêng” đang cười mỉm, đầu lắc nhẹ. Hỏng rồi, tôi nói nhỏ trong bụng. Hai phút sau thấy tôi không viết thêm được chữ nào, cô giáo “mời” tôi ra đứng ở góc lớp. Và bắt đầu giảng. Nhưng lần này cô giảng một bài về moral. Nào là bây giờ không chịu lo thì chờ đến bao giờ, bài toán dễ đã được lập đi lập lại nhiều lần, blah blah… Tôi được nghe đến đầy tai ngày hôm ấy, cộng thêm những giọng cười rúc rích của đám con gái trong lớp làm tôi muốn độn thổ. Tôi càng căm thù đám con gái của lớp này.

Trưa hôm đó, về đến nhà tôi quăng hết tập vở bỏ cả bữa cơm trưa trốn lên gác nằm suy ngẫm về cái mạng sao chổi của mình. Số mình sao đen đủi quá! Giận mình chán chê, tôi quay qua giận người. Tôi nhớ đến tiếng cười khúc khích quen thuộc mà mọi lần tôi thấy đáng yêu quá sao hôm nay như tiếng máy khoan xoáy thẳng vào óc. Mẹt mỏi tôi ngủ thiếp đi. Và trong cả giấc ngủ chập chờn tôi mơ thấy cả đám con gái trong lớp biến thành chuột hết.

Có điều kỳ lạ, cô nhỏ “Thiêng liêng” lại tỏ vẻ thân thiện với tôi hơn sau cái buổi sáng kinh hoàng và dài vô tận ấy. Cô “chịu khó” liếc nhìn về phía bàn cuối của bọn con trai chúng tôi thường xuyên hơn, mà tôi biết tôi là nhân vật chính. Mấy đứa con gái khác trong lớp cũng bớt thái độ “thù địch” với bọn con trai và tỏ vẻ thân thiện hơn mấy tháng đầu năm. Kỳ diệu hơn nữa là có nhiều lần “Thiêng liêng” còn lân la đến trò chuyện cùng xóm nhà lá chúng tôi. Nhưng bài học đau thương thứ hai vừa qua, tôi không thể tin vào thiện chí của đối phương. Tự ái của tôi đã dâng lên đến tận cổ và dựng nên một bức tường kiên cố giữa tôi và đám con gái trong lớp. Tôi cắm đầu lo học, học hối hả để bù lại khoảng trống trong trí não của mình. Nhưng giữa những hình cos, hình sin… tôi vẫn thấy có một đôi mắt dài như một đường thẳng vô tận mà tôi không thể nào với tới. Nhiều tuần sau tôi vẫn còn canh cánh về cái ngày thứ Sáu đó, và thoáng nghĩ đến phải làm cái gì để “trả lễ” lại tụi con gái và cũng đẻ xoa dịu đi cái vết thương lòng tự ái kia. Một hôm, trong giờ ra chơi, tôi và mất thằng bạn trong nhóm đang bàn tính chuyện trả thù, thằng nhỏ con nhất trong đám nói hơi lớn tiếng. Tôi thấy “Thiêng liêng” đi lại bỏ lửng một câu: “Ê, tui thấy gần nhà ông Táo có mấy cây mắt mèo mọc tốt dữ hen, cho vài cái lên cánh quạt trần thì vui hết biết!” Con nhỏ nói xong nheo mắt nhìn tôi rồi đi thẳng. Phản ứng đầu tiên của tôi, “đó là cái trò của bọn học trò Tiểu học”. Nhưng nghe “Thiêng liêng” nói tôi cảm thấy như một lời cổ vũ hối thúc một cầu thủ hàng Tiền đạo sút tung lưới đối phương. Con nhỏ này cũng muốn giảng hòa đây. Và đôi mắt sao quyến rũ lạ, có khả năng làm hơn một đứa chết chìm trong đôi mắt ấy, mà đứa chết trước là thằng tôi đây!

“Thiêng liêng” chắc đã bỏ công theo dõi từ lâu nên biết rõ mọi thứ. Bên cạnh nhà tôi là một bãi đất trống, rộng đến mất mẫu tây của lính nhảy dù. Cỏ dại, dây leo mọc đầy và đôi khi tôi còn thấy cả rắn lục xanh nằm vắt vẻo, im lìm trên các sợi dây leo rậm rạp ấy. Lúc nhỏ, mấy thằng bạn và tôi thường hay xé rào chui qua đó để bắt dế vào mùa hè, hay lấy cỏ khô và giấy carton làm nhà chòi cho nhỏ em. Lần này nghe “Thiêng liêng” nói, tôi nghĩ mấy cây mắt mèo nằm cạnh bờ rào có lẽ vui đây. Buổi chiều đi học về sớm, tôi lấy một bao nylon làm găng tay và chui qua miếng đất trống để thủ một nắm trái mắt mèo. Tôi gói hai lớp, thật kỹ vào bao nylon trước khi cho vào cặp.

Sáng thứ Sáu, tôi đến trường thật sớm. Nhưng khác với thường lệ, hôm nay tôi mặc đến ba cái aó. Một cái áo thun lót, sơ mi và cẩn thận mặc thêm một cái áo len bên ngoài nữa. Ba thằng bạn cũng đến lớp rất sớm. Theo nội quy, học sinh không được vào lớp trước giờ học. Không thấy bóng dáng của thầy Giám thị đâu cả, cả bốn đứa hui nhanh vào lớp. Một thằng nhảy lên vai tôi, hai đứa kia đứng canh cửa. Đứng trên vai tôi đầu nó gần đụng trần của lớp học. Nó dán vội một miếng băng keo ở mặt trên cánh quạt. Tay trái vịn trần nhà, tay phải đã trùm sẵn một cái bao nylon, nó lùa tay vào bao đựng mắt mèo lấy ra một nắm rải trên cánh quạt trần. Thằng bạn tôi thuộc loại nhỏ con và nhanh như chuột nhắt nhảy xuống sàn nhà. Cả bọn kéo nhau ra khỏi lớp nhanh như chớp, tim còn đập thình thịch. Trong giây phút, tôi ngỡ mình là một trong những nhân vật chính của “Mission impossible”, bộ phim được chiếu hàng tuần trên đài truyền hình Việt Nam trong những năm đầu thập niên bảy mươi.

Giờ Toán bắt đầu đúng giờ như thường lệ. Lớp học sáng nay sao im phăng phắc. Ngoài trời cũng lặng gió. Tôi bận nghĩ đến mấy trái mắt mèo trên cái quạt trần nên không để ý đến những hạt nắng vàng xuyên qua cửa sổ đang rọi trên mái tóc mượt mà quen tuộc ở góc bàn nhất. Hơn nữa, tôi còn khổ sở với ba lớp trên người. Trời Saigon vào tháng mười hai tuy đã dịu lại được đôi chút, vẫn còn hôi hổi nóng. Trên mặt tôi lấm tấm mồ hôi như đang đứng gần cái nồi nước lèo của bà bún bò đầu ngõ. Hai bàn tay lại lạnh ngắt như không khác một đứa con trai đang chuẩn bị tỏ tình lần đầu tiên. Cũng có thể trời giúp bọn tôi, ngay cả cô giáo cũng cảm thấy oi bức. Cô đưa tay bật quạt. Có lẽ thấy nóng quá nên cô hơi nặng tay, cô bật số ba! Trong mấy giây đầu tiên, cả lớp có vẻ dễ chịu hẳn ra. Lần đầu tiên tôi thấy mấy cánh quạt quay mà chóng mặt. Hình như có cái gì chích nhẹ vào cổ. Không dám gãi mạnh, tôi chỉ lấy móng tay châm nhẹ nhẹ cho qua cơn. Mấy đứa con gái ngồi trên cũng bắt đầu động đậy. Tôi chỉ nhớ, chừng hai phút sau khi cô giáo đưa bàn tay ngọc ngà vặn cái nút quạt thì vô số bàn tay bắt đầu… gãi. Trước nhất là cổ, rồi đến cánh tay, lưng, ngực. Da càng bị chạm đến nhiều, càng cảm thấy ngứa ngáy khó chịu, như hàng ngàn con kiến lửa đang cắn khắp người. Cả lớp cùng chịu chung số phận kể cả cô giáo và “Thiêng Liêng”. Cô ngừng giảng, quắc mắt nhìn xuống lớp xem chuyện gì đã xảy ra. Thì còn chuyện gì nữa, hàng trăm ngàn cái kim mắt mèo đã chui gọn vào áo quần của tất cả những người có mặt tron lớp. Không có kinh nghiệm, thiếu sáng suốt thì đúng hơn, cứ tưởng ba cái áo sẽ giúp tôi chống lại được kim mắt mèo. Chính ba lớp áo đã làm tôi khổ sở hơn ai hết. Nhìn vẻ mặt khổ sở của cô và ánh mắt căm hờn của đám con gái quay xuống nhìn bọn tôi, tôi bắt đầu sợ. Cô giáo phải cho giải tán lớp học ngay sau đó. Chuyện này trở thành một sự kiện kinh thiên động địa của trường mà cả bọn chúng tôi không đứa nào ngờ trước. Cả lớp tranh nhau tìm nước để rửa mặt mũi, tay chân và sau đó về nhà thay áo quần. Coi như mất một ngày học.

Sáng thứ Hai là ngày chào cờ. Thông thường lễ chào cờ chỉ mất mười hay mười lăm phút là nhiều. Sau khi hát xong bài Quốc ca, thầy Tổng Giám thị trịnh trọng đến trước micro. Thầy “nhập đề” về biến cố của ngày thứ Sáu tuần trước một cách thật bình tĩnh, ông gọi tên của từng đứa trong bọn tôi, ngoại trừ tên của “Thiêng Liêng”. Thật không hổ danh Tổng Giám thị, ông này tìm đâu ra manh mối hay thật! Ông kể tội bọn tôi trong vòng mười phút, trước mắt tất cả các học sinh trong trường. Tôi xấu hổ đến muốn chui xuống đất. Nền xi-măng cứng, và tôi chưa học được phép độn thổ của Tôn Ngộ Không nên đành đứng chịu trận. Mặt đổi từ màu xanh sang đở tía. Cô giáo Chủ nhiệm đứng cách thầy Tổng Giám thị không xa trừng trừng nhìn tôi nhưng không nói câu nào. Tất cả các học sinh khác vào lớp học, bốn đứa bọn tôi bị phạt đứng phơi nắng trong vòng một giờ. Thầy Tổng Giám Thị đi ra gọi bọn tôi vào văn phòng giảng cho một trận nên thân, và bắt bọn tôi phải đi đến lớp mà cô giáo Chủ nhiệm đan gdạy mà xin lỗi, sau đó là về lớp của mình để chịu tội với mấy đứa con gái trong lớp. Thiêng Liêng tránh cái nhìn của tôi khi tôi dõi mắt về hướng đó. Thấy con nhỏ buồn rầu ủ rũ, có vẻ lương tâm bị cắn rứt lắm tôi càng thấy mình đáng chịu phạt hơn. Một cảm giác buồn, giận, thương lẫn lộn. Hình phạt sau cùng của Ban Giám Hiệu dành cho bọn tôi là đuổi học ba ngày và phải nhổ cỏ dại trong sân trường trong vòng bốn tuần lễ.

Sau Lễ Giáng Sinh đến Tết, và cho đến cuối năm học, tôi buồn bã như một con chó ốm bị chủ bạc đãi. Chuyện xảy ra càng làm cho tôi và tụi bạn gần gũi nhau hơn. “Thiêng Liêng” không còn đến lân la nói chuyện với bọn tôi như trước, và tiếp tục lẩn tránh ánh mắt của tôi. Lại một mùa hoa phượng đang đến. Những cánh phượng vừa nở chen lấn với các nụ non vừa chớm. Tôi có cảm tưởng năm học trôi qua vừa chậm vừa nhanh. Chậm, vì muốn năm học mau hết để biến khỏi cái trường này cho lẹ. Nhanh, vì tôi vẫn còn muốn thấy “Thiêng Liêng” mỗi ngày. Tuần lễ sau cùng của năm học đã đến. Trước ngày cuối cùng, đang đứng trên hành lang cửa lớp, lơ đãng nhìn xuống sân trường. Tôi cảm thấy có gì chạm vào bàn tay. “Thiêng Liêng” vừa giúi nhanh một xấp giấy học trò gấp làm tám vào tay tôi, cặp mắt vẫn sắc lẻm nhìn tôi trước khi biến sau cửa lớp. Đã lâu lắm rồi tôi mới bắt gặp lại đôi mắt ấy. Tôi đã chết ngộp trong đôi mắt ấy từ lúc nào không biết. Có lẽ từ ngày thứ hai của của nămhọc. Chưa bao giờ tôi cảm thấy sung sướng và hồi hộp như buổi sáng hôm ấy. Đi vội vào lớp, tìm về chỗ ngồi của mình. Hai đứa con trai hôm nay nghỉ học, thằng còn lại có lẽ đang đi dạo ở một lớp khác chưa về. Giấu kỹ trong hộc bàn, tôi run run mở mấy tờ giấy học trò chỉ dính hờ với nhau bằng một băng keo nhỏ. Tất cả hơn sáu trang giấy viết thật dầy. Tôi có cảm giác như vừa bị ai đấm một cú thật mạnh vào ngực. Chưa bị bò đá bao giờ nên tôi không biết nó đau đến thế nào, chứ thế này thì đau lắm. Bức thư không phải viết cho tôi. Mà gửi cho Phong, thằng bạn thân ngồi cạnh, thằng bạn nhỏ con nhất trong đám mà tôi đã cõng nó trên vai trong “vụ án mắt mèo”.

Mắt tôi cay xè khi đọc hai chữ đầu, “Phong yêu,”…

Nguyên Tú My – Quỳnh Thy

Read Full Post »

Older Posts »