Feeds:
Posts
Comments

Archive for November, 2010

Chiều tàn thu

Tôi không muốn gọi khoảng trời kia là biển như người ta vẫn thường gọi vì rằng đó chỉ là một nhánh rẽ ngắn ngủi đưa con sông nhỏ vào đất liền rồi duỗi thẳng ra biển khơi. Những ngày biển động ở nơi đây vẫn rì rào sóng vỗ nhẹ nhàng vào con đập ngăn luồng nước dữ dội ở ngoài xa. Vùng biển tôi ở nằm khuất trong cái vịnh hẹp, xa xa là những ngôi nhà chìm trong bóng cây lòa xoà trước sân nhà. Buổi chiều nay yên ả chim trời kéo về đậu đầy bên bờ, gió thổi lành lạnh vào cuối thu nên biển vắng bóng người đi dạo. Đi dần ra phía nước cạn tôi bắt gặp vài đứa trẻ đang xăm soi tìm kiếm gì đó trong bụi lau già đã ngả màu úa vàng. Tiếng cười của chúng vang lên trong trẻo khiến lòng tôi chợt ấm hẳn. Tuổi thơ hồn nhiên sao đáng yêu chi lạ.

Hình như tôi vừa bắt gặp một điều gì đó thật quen thuộc ở nơi đây. Sự trong trẻo của những ngày thơ khi tôi cũng trạc vào lứa tuổi của chúng, thế giới chung quanh luôn là những điều diệu kỳ để khám phá, tìm tòi không hề nhàm chán.

Ngày ấy khi tôi còn bé, sống trong thành phố chật hẹp làm gì có biển có sông nhiều. Nói bạn đừng cười, biển sông của tôi là những con mương thoát nước, rãnh nước đọng mà tôi có thể tìm gặp được ở đâu đó. Con mắt trẻ thơ chỉ cần ngước mắt lên qua bãi cỏ lau là thấy được khoảng trời lồng lộng trên đầu mình rồi. Tôi còn nhớ vũng nước trong veo có những con cá bé tí bơi quanh đám rễ cây loằng ngoằng dập dình trôi trong nước. Vào mỗi chiều anh tôi thường cầm vợt đi hớt lăng quăng ở mấy cái mương cạn về nuôi lũ cá kiểng đủ màu sắc bơi lội trong hồ nhà. Cái hồ cá đó cũng là một thế giới thu nhỏ trong mắt tôi. Tôi nhớ đến những ngôi nhà, túp lều tranh nhỏ xíu nằm lẩn khuất trong kẽ đá của chiếc hòn non bộ mà ba tôi đã cất công dựng lên ở giữa cái hồ cá. Anh cả tôi đem về tượng ông tiều phu gánh củi đi qua chiếc cầu tre, tiên ông ngồi chơi cờ phong thái ung dung đạo mạo, ngư ông ngồi câu cá dưới bóng cây tùng. Tất cả những con người, cây cỏ đều toát ra một nét bình an tự tại mà tôi nghĩ ở thế giới thật bên ngoài nhiều người đã khổ công tìm kiếm, đôi khi hết cả đời người cũng chưa đạt được. Và cho đến bây giờ đôi khi ngồi nghĩ lại mới giật mình rằng, hình như cái chất “vô vi” mà tôi đang gom góp cho cuộc đời mình ngày hôm nay có phải đã bắt đầu từ những tượng đá mà mình vẫn tưởng là vô tri của ngày đó chăng?

Mà thôi so bì làm gì, vì thế giới thật của loài người đâu chỉ đơn giản suốt ngày rong rỗi nhàn du mà câu cá, đánh cờ. Rồi trẻ con cũng phải lớn, rồi người lớn cũng phải già. Quy luật tuần hoàn của tạo hoá “sinh,lão, bệnh, tử” cứ thế mà xoay tròn theo một kiếp người. Đến thiên nhiên cây cỏ vừa mới hôm nào xanh tươi màu ngọc mà chiều nay chỉ còn lay lắt vài chiếc lá khô đã úa vàng. Và thật kỳ lạ, ở một góc biển trời chiều nay tôi lại tìm thấy được cái đẹp rất quyến rũ của một buổi chiều tàn thu dưới bóng cây khô nhạt nắng.

Hình như những điều làm nên tình yêu không còn lệ thuộc vào quy luật của thời gian nữa thì phải.

Nguyên Tú My


Trên ngọn tình sầu

Nhạc sĩ: Từ Công Phụng – Thơ: Du Tử Lê

Ca sĩ: Tuấn Ngọc

http://www.youtube.com/watch?v=yOorcf8Vulo

Có những niềm riêng

Nhạc sĩ: Lê Tín Hương – Ca sĩ: Tuấn Ngọc

http://www.youtube.com/watch?v=1cyNILdOI5w

Read Full Post »

Vu Lan theo mẹ lên chùa

Tranh: Dang Giao

 

Mùa thu năm ấy tôi còn bé
Theo mẹ lên chùa lễ Vu Lan
Đường quê trơn ướt mưa bay nhẹ
Áo lam phơn phớt giữa thu vàng

Vẳng tiếng ai gọi con đò ngang
Xạc xào dấu cỏ chim lạc đàn
Chiều rơi nửa bãi bên kia núi
Gióng giả chuông chùa tiếng ngân vang

Hội chùa mở bên gốc cây xoan
Mái ngói rêu phong phủ lá vàng
Vang vang tiếng mõ kinh cầu tụng
Thoang thoảng hương nhà ai thắp nhang

Người đi lễ hội nói râm ran
Thoáng chốc gặp nhau ở giữa đàng
Chắp tay chào khẽ: “… Di Đà Phật”
Chuỗi hạt bồ đề lấp lánh quang

Mẹ nắm tay tôi bước nghiêm trang
Trước cổng bày bán hương, giấy vàng…
Mẹ dúi tay tôi đồng xu lẻ
Cho người ăn mày dưới gốc lan

Đi qua hàng nhài trắng như voan
Mẹ chọn chuỗi hoa bầy trên làn
Đeo vào cổ tôi thơm ngan ngát
Hương quê đằm thắm nhẹ toả lan

Đường vào chánh điện nến sáng choang
Hai ông Thiện-Ác đứng hai hàng
Líu ríu tôi lần tìm tay mẹ
Mẹ bảo: “Tâm lành, tránh tà, tham”

Nâng áo quỳ lên chiếc chiếu nan
Mẹ thắp nén hương, niệm khẽ khàng
Mắt lặng nhìn lên bàn Phật tổ
An nhiên một đoá toả sen vàng

Trăng cao chếch bóng hội chùa tan
Bà vãi cho tôi chiếc oản vàng
Lộc chùa nếp mới quà nhà Phật
Đưa tuổi thơ lớn theo thời gian

Giờ đây mỗi độ chớm thu sang
Quay quắt dạ trông phía chùa làng
Áo lam còn đó, người đâu vắng
Hoa nhài không nở lễ Vu Lan

Nguyên Tú My

Read Full Post »

8

Ngày còn bé, tôi ghét nhất con số 8. Đó là một con số dù có cố công gò gẫm – từ cách viết kiểu ngoằn ngèo như cái móc hay hai quả trứng gà tròn trịa chồng lên nhau – vẫn là con số xấu xí khó viết. Khi lớn tôi nhận thấy con số 8 không còn độc quyền trong số học nữa, không hiểu từ bao giờ nếu 8 được viết thành chữ nó lại mang một ý nghĩa rất khác, ám chỉ về một tính cách, hành động của con người. Nói nôm na là “ngồi lê đôi mách”.

Nhiều người cho rằng sở trường “tám” là khả năng thiên phú của phụ nữ vì câu thành ngữ trên ý nói đến tính thích lê la, ton hót chuyện nhà người của quý bà. Từ cái thưở internet, cell phone chưa thông dụng, phương tiện truyền thông để “tám” cũng chỉ bắt đầu từ những cái loa miệng. Đã gọi là loa thì không kể loa hình trái tim tô son Chanel bóng lưỡng hay loa ăn trầu cắn chỉ lúng liếng răng đen hạt cườm. Xấu, đẹp, dầy, mỏng, hô, móm… khả năng phát sóng đều như nhau. Cứ nhìn thấy một nhóm phụ nữ ngồi túm rụm, thì thầm to nhỏ, mặt mũi nghiêm trọng (hay lấm lét) như đang trốn dưới gầm giường nhà người là biết ngay đang có vài cuộc đời, vài nhân vật, vài gia đình vô tội (hay có tội) được đem ra… nấu cháo tám!

Câu chuyện ngụ ngôn rất hóm hỉnh It’s quite true của nhà văn Đan Mạch Hans Christian Andersen kể về câu chuyện một buổi chiều có chị gà mái bị rụng một cái lông. Gà bị rụng lông thì có gì đáng nói? Nhất là chỉ một cái lông? Nhưng đây là chuyện xảy ra trong một vườn gia cầm đông đủ các loài có khả năng “quạc quạc”. Thế là các chị gà, cô vịt, anh ngan, bà ngỗng… cứ to nhỏ, thầm thì chuyện chị gà rụng cái lông. Câu chuyện nhẹ tựa cái lông gà ấy đến sáng hôm sau bỗng trở thành một chuyện kinh động cả cái chuồng gà xóm nhà quê!

Chuyện kể từ năm một ngàn tám trăm lâu lắm vẫn được lưu truyền đến bây giờ vì tính hiện thực của nó. Không biết có sự trùng hợp nào đó hay không mà dân Mỹ cũng có từ Country Club dành cho những hội viên đặc biệt của hội chuyên buôn vịt trời này.

Bây giờ, kỹ thuật hiện đại, trình độ tám trở nên cao cấp tinh vi hơn, cường độ phát sóng càng xa hơn, nhanh hơn. Phone, chat, hay chỉ cẩn một cái email được gửi đi bonus thêm cái forward nhăng nhít, trong tích tắc bầy vịt trời sẽ đáp xuống tận từng nhà, tha hồ mà quạc!

Đó là trạng thái “tám”, bây giờ thử tìm hiểu xem nguyên nhân của “tám” từ đâu ra.

Tám – bắt đầu từ sự thiếu khả năng giao tiếp trong xã hội, người có kiến thức phổ thông nghèo nàn đến khi tụ năm, tụ ba lại với nhau không có chuyện gì hay ho hơn để nói để thu hút người nghe thì “tám” là phương cách hay nhất cứu vớt cho sự kém tri thức.

Đến khi “tám” vượt qua cái giới hạn của sự lan truyền tin vịt cạp, đưa đến tình trạng chỉ trích, nói xấu, điêu ngoa… “tám” thành hiện thân của sự mặc cảm thua kém, ganh tỵ nhỏ nhen của những kẻ yếm thế, vụ lợi.

Tám” cũng là một phương cách để thoả mãn tính tò mò, tọc mạch vào chuyện riêng tư của người khác. Bằng những mỹ từ “chia sẻ”, “đồng cảm”… tám len lỏi vào từng ngóc ngách để khai thác nỗi lòng (càng đau khổ, càng bất hạnh càng tốt) của nạn nhân. Nhiều người vì cô đơn, vì thiếu tự chủ vô tình đem thân trao lầm cho… tám để rồi sau đó gặp cảnh “chuyện nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã nghe”. Hàng rào chữ Tín bị đạp đổ bời Tám!

Như vậy làm thế nào để nhận diện được “tám” giữa cái thế giới hơn 6 tỷ người đông đúc này? Khó lắm, vì “tám” ẩn hiện dưới muôn vàn hình trạng như một con vi khuẩn sống lẩn lút khắp nơi chỉ chờ chực cơ hội để biến một vệt trầy xước vô tình trở thành vết thương lở loét kinh tởm.

Lòng tin rất gìới hạn, vậy tại sao có những người vẫn đưa cái đầu vào rọ để “tám” có vốn mà đi buôn vịt trời? Câu trả lời đơn giản lắm. Vì họ cô đơn, vì họ thiếu bản lĩnh để tự giải quyết những khúc mắc trong đời sống, vì họ muốn chạy trốn một sự thực rằng: rất khó khăn để tự nhận một phần lỗi về mình! Nhưng có cần thiết lắm không khi đón nhận sự thương hại gỉả dối từ những người chỉ biết mua vui qua sự đau khổ của người khác?

Viết đến đây thì có người ghé mắt nhìn vào, bảo tôi rằng: Này này… đừng tưởng Hội Buôn Vịt Trời chỉ là độc quyền của phụ nữ nhé, các vị đàn ông đôi khi cũng tám chẳng kém ai! Chỉ có điều đàn ông còn chút tư cách thì không tám trước mặt phụ nữ mà thôi.

À hèm… Vậy thì quý vị đàn ông nào lại vướng vào cái tính lèm bèm, hóng hớt thế trong khi bản chất các ông vốn ăn to nói lớn đến khi “tám” phải thều thào, thỏ thẻ vào tai người khác thì cũng khổ thật chứ chằng đùa. Nhưng không thế còn gì là “tám”?

Nguyên Tú My

Đăng bài viết của Hans Christian Andersen để tham khảo thêm về trình độ “tám” của thế kỷ thứ mười tám.

It’s quite true

“It’s a dreadful story!” said a hen, and she said it in a part of town, too, where it had not taken place. “It’s a dreadful story to happen in a henhouse. I’m afraid to sleep alone tonight; it’s a good thing there are many of us on the perch!” And then she told a story that made the feathers of the other hens stand on end and the rooster’s comb fall. It’s quite true!

But we will begin at the beginning and tell what had happened in a henhouse at the other end of town.

The sun went down, and the hens flew up. One of them was a white-feathered and short-limbed hen who laid her eggs according to the regulations and who was a respectable hen in every way. As she settled herself on the perch, she plucked herself with her beak, and a tiny feather came out.

“There it goes,” she said. “No doubt the more I pluck, the more beautiful I will get.” But she said it only in fun, for she was considered the jolliest among the hens, although, as we’ve said before, most respectable. Then she fell asleep.

There was darkness all around, and the hens sat closely together. But the hen that sat closest to the white hen was not asleep; she had heard and had not heard, as one should do in this world, if one wishes to live in peace. But still she couldn’t resist telling it to her nearest neighbor.

“Did you hear what was said? Well, I don’t want to mention any names, but there is a hen here who intends to pluck out all her feathers just to make herself look well. If I were a rooster, I would despise her.”

Right above the hens lived a mother owl with a father owl and all her little owls. They had sharp ears in that family, and they all heard every word that their neighbor hen had said. They all rolled their eyes, and the mother owl flapped her wings and said; “Don’t listen to it. But I suppose you all heard what was said. I heard it with my own ears, and one must hear a great deal before they fall off. One of the hens has so completely forgotten what is becoming conduct to a hen that she plucks out all her feathers, while the rooster watches her.”

“Little pitchers have long ears,” said the father owl. “Children shouldn’t hear such talk.”

“I must tell it to the owl across the road,” said the mother owl. “She is such a respectable owl!” And away flew Mamma.

“Hoo-whoo! Hoo-whoo!” they both hooted to the pigeons in the pigeon house across the road. “Have you heard it? Have you heard it? Hoo-whoo! There is a hen who has plucked out all her feathers just to please the rooster. She must be freezing to death; that is, if she isn’t dead already. Hoo-whoo! Hoo-whoo!”

“Where? Where?” cooed the pigeons.

“In the yard across the way. I have as good as seen it myself. It is almost not a proper story to tell, but it’s quite true!”

“True, true, every word of it,” said the pigeons, and cooed down into their poultry yard. “There is a hen, and some say there are two hens, who have plucked out all their feathers in order to look different from the rest and to attract the attention of the rooster.”

“Wake up! Wake up!” crowed the rooster, and flew up on the fence. He was still half asleep, but he crowed just the same. “Three hens have died of a broken heart, all for the sake of a rooster, and they have plucked all their feathers out! It’s a dreadful story, but I will not keep it to myself. Tell it everywhere!”

“Tell it everywhere!” shrieked the bats; and the hens clucked and the roosters crowed. “Tell it everywhere!”

And so the story traveled from henhouse to henhouse until at last it was carried back to the very same place from where it had really started.

“There are five hens,” now ran the tale, “who all have plucked out all their feathers to show which of them had lost the most weight through unhappy love for their rooster. And then they pecked at each other till they bled and all five dropped dead, to the shame and disgrace of their families, and to the great loss of their owner.”

And the hen who had lost the little loose feather naturally didn’t recognize her own story; and as she was a respectable hen, she said, “I despise such hens, but there are many of that kind! Such stories should not be hushed up, and I’ll do my best to get the story into the newspapers. Then it will be known all over the country; that will serve those hens right, and their families, too.” And it got to the newspapers, and it was printed. And it is quite true. One little feather may grow till it becomes five hens.

Read Full Post »

Viết bài này cách đây đã hai năm. Đăng lên đây vì…

Monday, December 15th, 2008

Buổi sáng thứ Bẩy, tại National Building Museum, thủ đô Washington, bà Hillary Clinton đã chính thức tuyên bố chấm dứt chiến dịch tranh cử trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng và lên tiếng kêu gọi ủng hộ ứng cử viên trẻ tuổi của đảng Dân chủ Thượng Nghị Sĩ Barack Obama trong cuộc bầu cử Tổng Thống sắp tới.
Trong bài diễn văn ngắn gọn của bà trước hơn một ngàn ủng hộ viên có một câu làm cho tôi phải ngẫm nghĩ mãi: “Life is too short, time is too precious, and the stakes are too high to dwell on what might have been,” Nhìn người phụ nữ 60 tuổi tươi cười, bình thản từ giã những ủng hộ viên của mình mà tôi không khỏi thoáng chút ngậm ngùi. Không biết đây là nỗi ngậm ngùi cho sự dừng bước của bà hay là nỗi ngậm ngùi cho sự thất vọng của những nguời phụ nữ đang mong chờ một sự thay đổi mới. Một nữ Tổng Thống đầu tiên của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ.

Có nhiều bình luận sau đó nói về sự thất bại của bà. Họ nói nhiều lắm, có người còn pha chút bông đùa, nếu Hillary chịu thay những bộ quần áo cứng ngắc hay mặc bằng những bộ váy áo trông thướt tha nữ tính thì cơ hội thắng cử sẽ dễ dàng hơn! Câu nói này nhằm mục đích phê bình sự cứng rắn trên chính trường của bà. Phải nhìn nhận, bà là một người phụ nữ giỏi, thông minh. Hình như cái ưu điểm giỏi và thông minh của một người phụ nữ đã không được giới đàn ông ủng hộ cho lắm. Họ dễ dàng chấp nhận một người đàn ông có tham vọng quyền lực như một điều tất yếu, nhưng họ không thể “chịu được” sự cứng cỏi cương quyết của một người phụ nữ, nhất là một người phụ nữ đã có gia đình trên chính trường.

Nếu người phụ nữ độc thân Condoleezza Rice đã từng được khen hết lời về đôi giầy boots cô mang trông thật “sexy” khi ngồi làm việc với các đấng mày râu. Hay phu nhân Laura Bush được bình chọn là một “perfect wife” vì bà luôn có vẻ dịu dàng, nhẫn nại khi đứng sau lưng Tổng Thống Bush thì những lời chỉ trích về tham vọng thành nữ Tổng Thống của Hillary có thái quá hay không?

Cách đây “vài” chục năm, khi tôi chân ướt chân ráo bước vào ngôi trường mới. Được vài hôm thì nghe các bạn học nữ than phiền về sự thua thiệt, phân chia nam nữ trong lớp. Giải quyết vấn đề lúc đó đến với tôi thật là đơn giản. Đến ngày bầu cử ban Chấp hành lớp thì nhất quyết không bầu bán chi cả cho bọn con trai. Phe ta chỉ bầu cho phe ta! Kế hoạch “đảo chánh” của tôi tan cái vèo theo chiều gió, vì số lượng con gái lớp tôi chỉ bằng 1/3 số học sinh trong lớp. Chuyện bầu bán rồi cũng không đi đến đâu. Đó là một chuyện nhỏ trong một môi trường nhỏ.

Trở lại câu chuyện ngày nay, với con số 18 triệu phiếu bầu cũng không giúp được một người phụ nữ của một đất nước nổi tiếng về tự do nhân quyền vượt qua được bức tường bảo thủ kiên cố để tiến vào Nhà Trắng. Thật lạ lùng, đã trôi qua khá nhiều năm mà bây giờ tôi vẫn còn thấy cảm giác hụt hẫng của ngày nào, như buổi sáng hôm qua ngồi nghe Hillary tuyên bố chấm dứt chiến dịch tranh cử của bà.

Buồn quá. Tháng Mười Một năm nay ai có muốn bầu bán gì thì cứ việc. Tớ nghỉ chơi!

Nguyên Tú My

Read Full Post »

Tôi sinh ra ở Sài Gòn, lớn lên ở Sài Gòn. Đến một ngày tôi rời thành phố ấy ra đi mà không biết được ngày trở lại. Lưu lạc nơi xứ người đôi khi cầm bút để viết vào một tờ đơn nào đó về nơi sinh chốn ở, tôi luôn trân trọng nắn nót hai chữ SaiGon bằng tất cả tình thương yêu cho một thành phố tuy tên gọi không còn trên tấm bản đồ địa lý nhưng vẫn luôn được nhắc nhớ đến thật trăn trở thiết tha.

Sài Gòn trong tôi là những con đường rợp bóng cây cao của Nguyễn Du, Ngô Thời Nhiệm, Duy Tân, Trần Quý Cáp… Ở Sài Gòn có rất nhiều con đường như thế, nhưng để mọi người biết đến phải kể tên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nơi đó có một ngôi trường con gái nằm khuất trong một góc rất riêng của thành phố, một bên nhìn qua Thảo Cầm Viên có nhiều cây xanh bóng mát và… khỉ, một bên nhìn qua nhà hàng xóm là trường Võ Trưởng Toản lại có đầy… con trai. Con đường từ trường Trưng Vương đi ra đường chính không dài lắm nhưng tôi tin đó là một đoạn đường rất dài với các cô khi hàng ngày phải đi qua hàng “cây si” bất chợt mọc dại hai bên đường vào giờ tan học. Con đường thơ mộng lại làm xao xuyến tâm hồn lãng mạn của tuổi học trò hơn nữa khi nhạc sĩ Nam Lộc phổ nhạc bài thơ Trưng Vương khung cửa mùa thu của nhà thơ nữ Nguyễn Thị Lệ Thanh, giai điệu được viết theo một bản nhạc ngoại quốc Tell Laura I love her.

Thưở ấy, tiếng hát Thanh Lan ngọt ngào lắm cộng thêm cái vẻ duyên dáng đáng yêu thật quyến rũ, Thanh Lan đã đưa bài hát Trưng Vương khung cửa mùa thu đến với người yêu nhạc qua làn hơi nhẹ như sương mai của những buổi sáng mùa thu.

Trời Sài Gòn những tháng cuối năm, đôi khi có ngày trở lạnh bất chợt vào sáng sớm. Khi đạp xe đến trường sẽ thấy hơi lạnh se se vào mặt, tóc xõa bay bay trong làn gió nhẹ. Biết đâu vài chiếc lá me bay lại vấn vương vào tóc sẽ làm cho mái tóc dài của các cô càng duyên dáng hơn. Thời sinh viên thỉnh thoảng chúng tôi phải vào viện Bảo tàng trong Thảo Cầm Viên để nghiên cứu những mẫu kiến trúc cổ. Ngồi vắt vẻo trên bờ đá tôi thường dõi mắt nhìn qua bên kia của bờ rào, ngắm những chiếc lá me cuốn mình bay nhẹ trong nắng làm nên một vũ khúc mê thường tuyệt đẹp của thiên nhiên. Vào giờ nghỉ trưa thế nào cũng có tiếng đàn guitar và bài hát Trưng Vương khung cửa mùa thu vẫn luôn là bài hát ưa thích của nhóm trẻ chúng tôi.

Trong thời gian đó, tôi được biết đến một người con gái là cựu nữ sinh Trưng Vương. Chị rất đẹp, đã từng là hoa khôi, từng đóng vai Trưng Trắc Trưng Nhị trong ngày lễ Hai bà. Lần đầu gặp chị đứng bên cửa sổ nhìn ra sân, một cảm giác bất an chợt đến với tôi. Chị xanh xao quá, đôi tay thon dài đặt hờ hững bên song, đôi mắt vô hồn nhìn mông lung ra ngoài khung cửa. Cả con người của chị toát ra một vẻ mong manh đến độ tôi có cảm giác nếu chạm vào sẽ vỡ tan ra. Không vậy sao được, vì chị đang sống trong một thế giới của riêng chị mà những người như tôi sẽ không bao giờ chạm tới được. Biết thế nhưng vẫn không khỏi xót xa. Có phải vì trời xanh quen thói má hồng đánh ghen?

Tôi kể về Sài Gòn như một hoài niệm về những điều xưa cũ. Vui có, buồn có. Sài Gòn của một thời mà tôi đã yêu và đã sống hết mình với nó. Tôi chưa cho Sài Gòn gì cả nhưng đã nhận được lại rất nhiều. Đó là cành phượng vĩ đỏ thắm rực rỡ trong sân trường trải đầy sỏi trắng, mỗi bước đi như có tiếng reo của đá ở dưới chân. Đó là những chiều mưa bay kéo về bất chợt trong ngày hạ để tôi nắn nót viết nên giòng nhạc vụng dại của tuổi học trò. Đó là những ngày rong chơi cùng bạn ngồi trong quán nhỏ nhìn về phía sông nhớ về những người áo trắng đã rời con sông này để đi ra biển lớn. Không rõ hàng cây xanh ở Bộ Tư Lệnh Hải Quân có còn đó không, ba mươi lăm năm rồi còn gì! Đã đủ dài chưa để quên đi những xao xác nhớ mong…

Chỉ tại trưa nay vào quán nghe Ricky Valance hát Tell Laura I love her để rồi cứ quay quắt vì nhớ nhung. Ai ơi hãy gửi giùm tôi câu hát cuối cùng của bài hát mà nhắn với SaiGon rằng,

My love for her will never die.

Nguyên Tú My

Tell Laura I love her

Written by Jeff Barry and Ben Raleigh – Performer: Ricky Valance

http://www.youtube.com/watch?v=2OhY8hVzsic

Trưng Vương khung cửa mùa thu

Lời việt: Nam Lộc – Thơ: Nguyễn thị Lệ Thanh – Ca sĩ: Thanh Trúc

http://www.youtube.com/watch?v=LxRykj5Q2Rk&feature=related

Read Full Post »

Cánh hoa dầu

Nghe bạn càm ràm khi nhìn tấm ảnh tôi đăng trên entry Mùa lá đỏ. Bạn làm tôi chột dạ, lò dò mở tấm hình ra xem lại. Ừ, hiện ra trong khung ảnh một khuôn mặt đã có dấu vết tàn phá của thời gian. Làn da tối đi dưới vệt nắng loang lỗ, môi đã khô, mắt đã quầng mỏi mệt, và nụ cười đã thấy cái héo hắt của mùa thu đời người. Tính ra từ ngày tôi rời khỏi quãng đời thiếu nữ đến nay đã là một quãng thời gian dài mà mỗi khi muốn nhớ lại phải lẩm nhẩm đếm như một bà già có tính hay quên chuyện hiện tại mà lại nhớ mãi về quá khứ ngày xưa. Đôi khi tôi nghĩ có điều gì cứ níu kéo tôi mãi với cái quá khứ cũ rích, với những con người mờ ảo của ngày ấy? Có phải là cái thưở bạn bè còn hồn nhiên vô tư từ môi cười ánh mắt, cái thưở người đối với người chân thành tình trong như nước đổ xuống từ con suối thượng nguồn quá khứ?

 

Vậy đừng trách khi tôi cứ mãi nhắc đến cái thưở nhìn gì cũng đẹp, thấy gì cũng yêu ấy. Quá khứ dẫn dắt tôi lại nhớ những buổi sáng trên đường đến trường đi qua con đường có hàng cây dầu. Vào những ngày gió hoa dầu xoay xoay đôi cánh quay tròn trên không như chiếc chong chóng trước khi rơi xuống đất thật đẹp. Tôi hay gọi đó là hoa chuồn chuồn. Một người bạn gốc Tây Ninh bảo tôi đó là quả của cây Chỏ nâu, có người còn gọi là hoa sao nữa. Cây dầu không cao lắm, vào cuối mùa hạ thì cây ra hoa có hai cánh xoè màu đỏ nhạt gắn liền với thân dạng quả tròn có khía màu xanh. Vào tháng Mười, Mười Một khi hoa già đi trái dầu sẽ lớn hẳn ra và đổi qua màu nâu chàm. Đến lúc này hoa sẽ lìa cành. Tôi không nhớ rõ lắm, vì hơn hai mươi năm nay tôi đã không đi lại con đường ấy nữa nhưng hình ảnh những cánh hoa như những món đồ chơi của thiên nhiên từ đâu đó rơi xuống để chúng tôi đuổi bắt sao cứ còn lưu luyến mãi trong tôi.

Nói đến đây chắc bạn sẽ cười thầm. Trời, tưởng gì hay, mấy cái bông nhà quê vừa cứng lại vừa thô, màu sắc buồn bã rớt đầy trên con đường đến trường. Một loại cây lá không biết gọi là hoa hay quả mà tụi con trai vẫn lượm làm cầu đá cho khỏi cuồng chân thay vì phải đá vào nhau. Những ngày tan học về. Líu ríu một nhóm dăm bẩy đứa con gái. Đứa đi bộ thong dong, đứa xe đạp vướng víu cũng ráng dắt xe theo bạn đi qua hết đoạn đường đầy nắng, có cánh hoa dầu bay bay rồi mới chia tay nhau về mỗi ngã khác nhau.

Nhắc đến đây có thể bạn sẽ mường tượng ra được khúc đường quen ấy. Nhớ ngày đầu tiên tôi đến trường mới, đi vào con đường nhỏ, một bên là doanh trại, một bên là đồng trống, ao bèo có vài cây so đũa còi cọc, thỉnh thoảng có tiếng cóc nhái đâu đó kêu ồm ộp như đang ở làng quê. Ngay thành phố mà có một con đường quê như thế mới lạ. Đường rộng, hàng cây lưa thưa bên đường không đủ để che nắng đám học trò nên các cô phải dấu kín khuôn mặt mình dưới những chiếc nón đủ kiểu, đủ màu sắc. Trên đường về với chúng tôi luôn có một người bạn trai học chung lớp đi cùng. Rất hiền, hay cười dù có bị chúng tôi nghịch ngợm chọc phá. Mãi về sau này tôi mới biết thời gian đó đời sống của bạn ấy gặp rất nhiều khó khăn vậy mà bạn vẫn giữ được mãi nụ cười hiền hoà ấy trên môi. Khuôn mặt nhễ nhại mồ hôi trong nắng của bạn là hình ảnh mà tôi còn lưu giữ trong ký ức của một thời khốn khó. Hình như vào thời ấy ai cũng phải đi ngược nắng, phải sống gian truân.

Hơn hai mươi năm rồi, tôi đã đi qua nhiều con đường đầy nắng, những con đường không phải trên quê hương tôi. Cái nắng xứ người không gay gắt như những ngày nắng trên con đường học trò ngày xưa, đời sống xứ người không nghiệt ngã như đời sống của thời gian truân ấy. Những con đường tôi đi không thấy trẻ con rượt bắt những cánh hoa dầu bay trên không, không có những giọt mồ hôi đẫm ướt áo trắng học trò giờ tan học. Những điều tôi nhớ tôi thương không có trên con đưởng tôi đi qua, dù chỉ là một cánh hoa dầu màu nâu buồn nhỏ bé.

Cũng như những cánh hoa dầu màu xanh đang chuyển qua sắc nâu tràm rất buồn kia, tuổi trẻ của tôi đã ở lại với con đường ngày xưa rồi, bạn thân mến ạ.

Nguyên Tú My

Read Full Post »

Mùa lá đỏ

Tháng Mười Một đến như một tiếng thở nhẹ của mùa thu trước khi bước qua đông. Hàng cây phong lá đỏ trên đường đã chuyển sang màu úa tàn hiu hắt, lay lắt từng cánh lá rơi mỗi khi cơn gió thoáng qua. Con phố nhỏ có hàng cây dài che bóng gắn bó với tôi quen thuộc đến từng khúc quanh, vết nứt trên đường và cây phong lá đỏ vẫn đứng ở nơi đây dù đã qua bao mùa mưa nắng. Cây phong ấy là một nhân chứng cho cuộc viễn du của chặng đường dài hơn hai ngàn cây số từ miền Tây nắng ấm để đến nơi này.

Mùa hè của mười tám năm trước, khi đứng bên bờ hồ nước trong vắt, bãi cỏ mềm êm nhẹ dưới chân; tôi đã không nén được nỗi nôn nao, ngẩn nhìn khoảng trời tràn ngập màu xanh của cây cỏ. Khoảnh khắc ấy đã được ghi lại trong tấm hình của một buổi chiều đầy nắng có tôi bên thảm cỏ xanh, phía sau lưng là cây phong nghiêng bóng bên hồ. Rồi chỉ qua vài tháng, khi mùa thu đến khoảng trời xanh kia lại bừng bừng chuyển sang sắc màu đỏ rực đẹp đến mê muội lòng người.

Mùa lá đỏ. Tôi gọi tên mùa thu nơi tôi ở. Cho dù là những ngày mây xám vần vũ trên bầu trời hay khi mưa giông trắng xoá phủ đầy đường phố. Lá phong vẫn đỏ rực níu kéo khoảnh khắc còn lại của sự sống trước khi rơi lìa cành. Điều này luôn làm cho tôi liên tưởng đến sự hạnh phúc và khổ đau, thăng hoa và lụi tàn trong đời sống con người.Thời gian vẫn trôi theo luật tuần hoàn của tạo hoá. Cây phong lá đỏ đã bao lần thay màu lá để đến mười tám năm sau tôi bắt gặp lại mình giữa một mùa thu dưới bóng cây phong đang tỏa sắc màu rực rỡ. Mười tám năm dài lắm, nhưng cũng ngắn như một chớp mắt sau giấc ngủ muộn, mở mắt nhìn qua song thì cây lá đã sang mùa.

Tháng Mười Một của mùa lá đỏ. Đã từng chờ đợi đến mùa để được nhìn cái đẹp mà thiên nhiên trao tặng cho người miền Đông. Lại như đang khoác vào người chiếc áo hồn nhiên mà ca hát cùng cây cỏ. Hoa vẫn nở trong vườn nhà ai mà sao hương thoáng đâu đây. Chim vẫn về ríu rít trên cây khi gió mùa đông chưa kịp đến. Mùa lá đỏ chẳng là của riêng ai nếu người biết yêu thương sắc màu đầy nhựa sống ấy. Cái sắc đỏ thẫm đầy khao khát trải lên cả con đường dài như đang dốc cạn sức sống cuối cùng để làm đẹp cho đời.

Thiên nhiên cây cỏ bao giờ cũng chân thật, sẵn sàng chia sẻ cái đẹp cùng con người. Người miền đông yêu mùa thu bởi thu là hoá thân của một đời cây cỏ luân chuyển như cuộc đời của con người. Tôi học người miền đông cách yêu mùa thu để biết quý thời gian còn lại của đời người trôi qua ngắn ngủi, để ngẫm lại mình trước khi bước qua đông. Tôi yêu mùa thu, để thấy rằng đằng sau những bội bạc nhân gian, tạo hoá vẫn không phụ rẫy con người xua đẩy sự tuyệt vọng đi vào nỗi cùng cực vì ở đâu đó quanh ta vẫn còn những điều đẹp đẽ bình dị cho ta tận hưởng, cho lòng lãng quên.

Có nói nhiều cũng khó mường tưởng được, thôi bằng bạn hãy đến thăm miền Đông khi trời vào thu rồi bạn sẽ hiểu vì sao tôi lại gắn bó với mảnh đất này như thế. Một mảnh đất của miền Đông nơi có rất nhiều điều để nhớ, để bối rối lòng ai, để níu kéo chân người…

Nguyên Tú My

Chiếc lá thu phai

Nhạc sĩ: Trịnh Công Sơn

http://www.youtube.com/watch?v=XAdWgCCgCLI

Read Full Post »

Older Posts »