Feeds:
Posts
Comments

Archive for the ‘Kiếm hiệp-Tú My Hồ Điệp’ Category

( … )

Liếc thấy tiểu tăng im lặng có vẻ ra chiều đang suy nghĩ, nó nói thêm:

– Tam quy Ngũ giới của nhà chùa ngươi lỡ phạm rồi. Thôi, có con gà quay này ngươi hãy chia cho ta một nửa, coi như ta gánh nửa tội sát sanh giùm cho nhà ngươi rồi đó.

Miệng nói, tay bốc. Nó đặt Tiểu My nằm trên bãi cỏ rồi ngồi xé gà ăn ngon lành. Tiểu tăng ngồi xuống bên cạnh tò mò nhìn đứa bé một hồi lâu, trong lòng nó dậy nên một cảm giác thật dễ chịu thân ái nên nó muốn làm lành với Hồ Quân.

– Nó là em ngươi hả? Nhà ngươi ở đâu?

– Trong làng chài, ở dưới phố kia kìa. – Hồ quân trả lời –

Ăn no xong, nó quẹt miệng đầy mỡ vào tay áo, đứng dậy xoa bụng, nhìn về phía chùa Linh ẩn ngao ngán:

– Ta có chuyện phải lên chủa gặp lão hòa thượng Tế Điên tăng. Ngươi có muốn đi cùng ta không thì ta cho cõng sư muội Tiểu My?

Tiểu tăng vốn dạ hiền lành, chất phác nên mắc vào bẫy của Hồ Quân dễ dàng. Nó vui mừng đón lấy Tiểu My trong tay Hồ quân rồi chạy băng băng lên trên núi. Hồ Quân cứ thế đủng đỉnh theo sau như người nhàn du, thong thả ngắm cảnh đồi núi bao la hùng vĩ.

Đi gần đến cửa chùa, mùi hương trầm tỏa ra thơm ngát từ cửa chánh điện. Tiều tăng đưa Hồ Quân đến trước cửa chánh điện ngồi chờ Tế Điên hỏa thượng. Nó ghé mắt nhìn vào bên trong, bệ thờ là một kệ gỗ được sơn son thiếp vàng rất cầu kỳ, pho tượng Phật tổ uy nghi ngồi trên toà sen, quanh bệ thờ là bốn chân hạc bằng vàng còn thắp nến sáng lung linh. Hồ Quân bước gần lại bàn thờ, thò tay lấy một chân hạc bỏ vào bị. Nghe tiếng động ở bên ngoài nó vội dợm chân bước ra thì thấy cả thân người tựa như dính chặt xuống đất, không bước đi nổi nữa. Hoảng hốt nó tìm cách vùng vẫy nhưng dường như có một sức mạnh vô hình càng lúc càng giữ chặt nó lại. Có tiếng người vọng ra từ dưới gầm bệ thờ, nó nhận ra đó là tiếng của Tế Điên hòa thượng đang nằm vắt chân chữ ngũ tay cầm bầu rượu:

– Tiểu tử, đến chốn cửa phật cũng không bỏ được lòng tham hay sao?

Hồ Quân kêu trời trong bụng, sáng nay ra ngõ gặp gái hay sao mà xui tận mạng vậy. Nó hạ giọng năn nỉ:

– Hòa thượng đã xuất gia tu hành, thịt chó không từ huống chi tiểu tử còn vướng đầy nợ trần khó dứt… khó dứt được. Hòa thượng thả lòng từ bi tha cho tiểu tử lần này, tiểu tử sẽ sớm tối cầu kinh cho hòa thượng chóng thành chánh quả, được mau lên cõi niết bàn!

– Ha ha… khá khen cho tiểu tử miệng lưỡi lắt léo, giảo hoạt! Ta sẽ tha cho ngươi lần này nhưng ngày ngày ngươi phải lên chùa tụng niệm kinh cầu an cho thân tâm an lạc, tu tâm dưỡng tánh hòng cứu nhân độ thế sau này.

Nói xong Tế Điên hỏa thượng lấy tay gõ vào huyệt Khai Tâm trên đỉnh đầu Hồ Quân. Nó cảm thấy như có một luồng nội khí truyền nhanh từ đỉnh đầu xuống chân, cả cơ thể bỗng nhiên nhẹ bẫng. Hồ Quân sụp xuống chắp tay bái tạ, khi ngẩng lên thì Tế Điên tăng đã bước chân ra ngoài đi mất rồi.

o0o

Từ đó, ngày ngày Hồ Quân chăm chỉ đi lên chùa học đạo. Thật ra ngồi trong chánh điện miệng ê a tụng kinh niệm phật nhưng mắt và tai nó chỉ chăm chú vào những bài tập quyền cước ở ngoài sân kia. Là đứa sáng dạ, nó ghi nhớ hết những đường võ công bí hiểm rồi đi vào rừng cùng luyện tập với tiểu tăng, nay đã thành bạn chí thân. Một hôm Hồ Quân móc tiền túi đi xuống chợ mua một xâu thịt chó đem lên núi đãi bạn, sau khi ăn uống no nê chúng kết nghĩa thề nguyền đồng sinh đồng tử sống chết có nhau. Lần đầu tiên được nếm món lạ, tiểu tăng tên gọi là Tú Duyên, hứng chí móc trong hầu bao ra một sợi dây đeo cổ có đính một viên ngọc đá to bằng quả trứng gà màu xanh biếc cho Hồ Quân xem. Vừa nhìn thấy viên ngọc Hồ Quân thoáng giật mình, nó đã nhìn thấy một viên ngọc như thế ở đâu mà không nhớ ra. Gặn hỏi nguồn gốc, Tú Duyên cũng không biết rõ lai lịch của nó như thế nào. Trong trí óc non nớt của nó chỉ biết đó là vật gia bảo được đeo bên người từ ngày còn bé. Không gia đình, không người thân thuộc, tuy cả đoạn đời nó chập chững lớn khôn trong bàn tay nhân ái đùm bọc của nhà chùa nhưng chưa hề được xuất gia vào cửa phật. Hồ Quân nghe kể khoái chí cười tủm tỉm:

– Tốt lắm! Tốt lắm! Ngươi còn mang nặng lòng tà. Tham sân si chưa thoát được, nhà Phật không nhận cũng phải đạo thôi. Nay cùng ta kết giao bằng hữu thâm tình, ngươi hãy theo ta đi xuống núi một phen, cho biết cuộc đời hỉ nộ ái ố ra sao chứ!

Nói xong, hai đứa dắt nhau đi xuống thị trấn khi trời đã về chiều.

o0o

Kinh thành Mộc Châu hôm nay mở hội tết Trung Thu rất lớn. Mặt trời vừa xuống ở phía cửa thành Tây thì trăng đã lấp ló ở bên kia núi rồi. Ánh trăng rằm tròn, to tỏa ánh sáng mượt mà xuống từng khuôn mặt người người đi lại trên phố, xúng xính quần áo lượt là. Con đường dẫn vào thị trấn phất phới cờ phướn đủ màu sắc, những chiếc đèn lồng treo trên cao trước cửa hàng quán rủ những sợi len tua lắc lư đong đưa trong gió thu thật đẹp mắt.

Tú Duyên lần đầu tiên được ra chốn kinh thành nên mọi thứ chung quanh đều làm cho nó suýt xoa, kinh ngạc. Đi ngang qua hàng bánh nướng, Hồ Quân mua cho Tú Duyên chiếc bánh thập cẩm nhân trứng gà vàng rượm. Tiểu tăng trước giờ chỉ biết cơm rau, tương cà đạm bạc của nhà chùa thỉnh thoảng bắt được chim sẻ, gà rừng trên núi phá giới đôi ba lần nay ăn miếng bánh nướng mà thấy ngon như sơn hào hải vị nên cứ khen luôn miệng. Hồ Quân thò tay vào túi móc ra vài đồng bạc lẻ cuối cùng, đếm đi đếm lại cũng không đủ để mua thêm một tấm bánh khác đãi bạn. Nhìn qua phía bên kia đường trước cửa tửu quán có một nhóm người bu quanh cười nói ồn ào náo nhiệt, nó kéo Tú Duyên len qua đám đông để nhìn vào. Thì ra đó là một đám đánh bạc đang sát phạt nhau om sòm. Gã chủ sòng đầu đội nón đen, tay cầm cái tô lớn đựng mấy hột xí ngầu xanh đỏ, miệng la tay thu đếm tiền nhanh thoăn thoắt. Nhìn thấy hai đứa trẻ cứ đứng nấn ná chật chỗ người chơi, hắn vẫy tay xua đuổi:

– Tiểu tử không có tiền đánh bạc thì hãy tránh ra. Đứng đây chật chỗ của ta quá!

Hồ Quân móc túi lấy ra nắm bạc lẻ, đặt mạnh xuống chiếu, cười nói:

– Tiền đây đã đủ chưa?

Gã chủ sòng cười khẩy, nói giọng khinh bỉ:

– Mớ tiền ăn xin của ngươi chẳng bõ công ta ngồi gây sòng. Biết khôn thì cút ngay đi!

Tú Duyên tức khí, hai tay nắm chặt muốn vung đòn ra trị lão điêu ngoa kia nhưng Hồ Quân biết ý đã bấm vào tay bạn ra hiệu trước. Nó bình tĩnh, cười cầu tài nói giọng ngọt xớt:

– Đại gia ơi, tiền nào mà chẳng là tiền. Đại gia mở sòng, tiểu tử có bạc nên vào đây ngồi là phải đạo. Sao lại xua đuổi tiểu tử ra ngoài?

Người đứng xem chung quanh cũng cảm thấy bất bình cho hai đứa trẻ nên cũng lên tiếng nhao nhao phản đối. Gã chủ sòng hậm hực cầm cái tô lắc mạnh, rồi đặt xuống chiếu. Mờ cái tô ra, mọi người chợt ồ lên kinh ngạc:

– Nhất!

Thấy ba chấm đỏ tròn trĩnh nằm cạnh nhau, gã chủ sòng tức tối chung tiền cho Hồ Quân mà trong bụng rủa thầm thằng khờ này được thánh nhân đãi lớn. Hồ Quân thong thả cầm tiền lên ngắm nghía, rồi đặt tất cả vào ô cũ. Gã chủ sòng cười thầm trong bụng, phen này ta sẽ cho nhà ngươi cháy túi. Bao năm lọc lõi trong nghề, hắn biết cách lắc con xí ngầu để phá bộ Nhất này.


( … )

Nguyên Tú My

Read Full Post »

( … )

Tế Điên hòa thượng biết Hồ Quân chỉ miệng lưỡi lắt léo cho qua chuyện. Lão tăng đứng chắp tay sau lưng ngắm nhìn dung mạo thằng bé mặt mũi khôi ngô, trán cao mắt sáng nhưng cặp chân mày lại xếch ngược ngang tàng, trong bụng nghĩ thầm:

– Thằng bé này có cốt cách vương tướng nhưng với cặp chân mày ngỗ nghịch này, nếu không dạy dỗ hắn cẩn thận thì không làm vua thì cũng thành giặc mà thôi.

Nghĩ thế bèn rút trong cái túi đeo bên người ra một tờ giấy, trải bút mực xuống phiến đá bên đường, ngồi viết liếng thoắng đầy trên trang giấy. Viết xong Tế Điên đưa tờ giấy cho Hồ Quân rồi bảo:

– Tiểu tử hãy đưa lại tờ giấy này cho công công của ngươi, rồi mai lên chùa Linh Ẩn báo lại cho ta biết.

Hồ Quân liếc nhìn tờ giấy chỉ thấy chữ nghĩa loằng ngoằng như giun đất, chẳng hiểu lão hòa thượng viết gì trong đó. Nó giả bộ vâng dạ cho qua chuyện, rồi cõng Tiểu My chạy băng băng về nhà. Vừa chạy nó vừa suy nghĩ, lão hòa thượng này thần phép biến hoá khôn lường, tuy là người tu hành nhưng cốt cách lại trần tục, nửa điên nửa tỉnh. Vốn là đứa thông minh nó biết lão hòa thượng đây cũng không phải là ngưởi tầm thường. Nay lão biết rõ nó giả dạng bần hàn đi ăn mày bá tánh, rồi viết thư báo cho Bất Thiên công công biết sự tình thì nó cũng chẳng yên thân. Chi bằng nhịn nhục lão sư điên lúc này, sau đó giấu biến tờ giấy đi là êm chuyện. Nghĩ như thế, nó yên tâm chậm bước chân thong thả cõng em trở về bến sông, thỉnh thoảng nó còn ngoái lại nhìn theo bóng dáng Tế Điên hòa thượng khật khưỡng khuất dần trên con đường mòn dẫn về phía núi.

o0o

Ngôi chùa Linh Ẩn nhỏ xíu nằm ở lưng chừng ngọn núi Phi Lai. Trên đường đi qua chùa có con suối rất trong, nước mát rượi chảy róc rách quanh năm nên người đi đường thường ghé qua nghỉ chân, uống nước. Người ta đồn rằng, nước ở con suối này rất thiêng vì ở trên đỉnh núi cao vút trên kia có một mỏm đá do thiên nhiên đắp bồi nhìn như hình dáng Phật bà nghiêng chiếc bình nước Cam lồ đổ xuống núi Phi Lai làm thành con suối trong. Khách thập phương thường lui tới thăm viếng ngôi chùa có lẽ vì câu chuyện truyền thuyết về dòng suối thần kỳ ấy. Ai cũng muốn leo lên đỉnh núi cao kia để nhìn rõ hình tượng đá Phật bà linh thiêng như lời đồn đại. Theo lời kể của những lão tiều phu sống lâu năm ở chân núi, đã có vài người thử leo lên đỉnh núi khó khăn hiểm trở kia nhưng mãi không thấy ai trở về. Những câu chuyện huyền thoại nửa thực, nửa hư càng làm tăng thêm sự tò mò của khách vãng lai.

Sáng nay Hồ Quân cũng đi lên trên chùa như lời dặn của Tế Điên hòa thượng. Cõng Tiều My trên lưng, nó đi men theo con đường mòn quanh co dẫn lên núi. Thường ngày con đường này luôn vắng vẻ, thỉnh thoảng có vài ba lão tiều phu chuyên đi mót củi ven rừng, gánh từng bó củi to đi xuống chợ bán. Trên lưng nó, Tiểu My cất tiếng cười khanh khách mỗi khi thấy có cánh bướm bay ngang. Vào mùa xuân cây cỏ hoa lá mọc đầy làm nên một khung cảnh thật nên thơ nhưng vẫn không làm cho Hồ Quân động lòng thưởng ngoạn. Ngồi bên phiến đá bên đường, nó lầm bầm rủa thầm trong miệng:

– Mấy năm nay lão gia bôn tẩu giang hồ, đầu đội trời, lưng cõng con tiểu tử này cả ngày muốn cong cả xương sống, lọi cả xương sườn. Nay chỉ vì lão hòa thượng điên mà hỏng hết cả mưu đồ làm phú gia của ta.

Hắn vừa buồn bực, vừa đói thì ngửi thấy mùi thịt nướng ở đâu đây bay tới. Rẽ đám cỏ rậm ở hai bên đường, Hồ Quân len vào bên sườn dốc, dưới đất mọc đầy một loại cỏ tơ, hoa vàng nở lấm tấm phất phơ trong gió. Ở phía bên kia tảng đá lớn, có một chú tiểu trạc bằng tuổi nó đang lúi húi nướng con gà rừng béo ngậy trên lò lửa, mỗi khi có cơn gió thoảng qua lại đưa mùi thơm quyến rũ càng gần mũi nó. Hồ Quân bụng bảo dạ:

– Tên tiểu tăng này ắt hẳn là đồ đệ của Tế Điên hòa thượng. Đúng là thầy nào trò nấy mà!

Tiểu tăng nướng xong con gà trên bếp, lấy xuống vùi trong đống than hồng rồi bỏ đi ra phía bìa rừng. Chỉ chờ có thế, Hồ Quân chạy ra bới con gà lên, bẻ ngay cái đùi béo ngậy hả miệng tính ăn ngay cho bõ thèm. Soạt một tiếng, cái đùi gà trên tay nó rơi ngay trên cỏ. Nghe tiếng gió từ sau lưng, nó né người tránh tiếp một đường quyền từ phía sau đánh tới. Thì ra trong lúc nướng thịt tiểu tăng biết có người rình rập nên làm bộ bỏ đi rồi quay lại, bắt gặp Hồ Quân đang ăn vụng con gà nướng của nó nên ra đòn trừng trị cho bõ ghét.

Hồ Quân thấy tên tiểu tăng này tu hành mà hung hăng quá, vừa tránh đòn vừa lớn tiếng quát mắng:

– Lão gia đây trên đường đi gặp sư phụ của ngươi để bàn chuyện đại sự. Giữa đường đang cơn đói gặp gà ngon, ta ăn có một miếng mà ngươi đã vung động tay chân như phường tục tử thế kia. Tu hành như ngươi thì chín tầng địa ngục cũng không có chỗ tạm dung đâu!

Tiểu tăng không nói không rằng, thấp thoáng hắn đã bay đến ngay sau lưng của Hồ Quân, vung quyền tính thoi vào lưng đối thủ một đòn chí mạng. Tay áo cà sa vung lên cách đầu Hồ Quân khoảng một trượng chợt dừng lại lơ lửng trên không. Tiểu tăng sững sờ nhìn con bé Tiểu My đang nằm gọn gàng trong bọc vải đeo trên lưng của Hồ Quân. Vốn là một đứa trẻ sớm vào chốn cửa chùa từ ngày còn bé, đêm ngày chỉ biết kinh kệ, luyện công với các sư tăng trong chùa nay nhìn thấy một thằng bé trạc tuổi nó lại ẵm bồng một đứa trẻ trên lưng nên có phần kinh ngạc.

Thu vội đường quyền về, tiểu tăng nhẩy xuống đất đứng chắn ngang trước mặt Hồ Quân, chống nạnh hỏi:

– Tiểu tử, đã đi ăn cắp vặt mà còn vác theo con nít làm gì. Đứa nhỏ đó là con cái nhà ai hay là… hay là ngươi bắt cóc ở đâu về?

Hồ Quân làm ra vẻ bề trên, khinh khỉnh nói:

– Con ai mặc xác nó, mắc mớ gì mà tra hỏi! Nó nằm trên lưng ta cà ngày không phải má má thì cũng là bà nội ta thôi. Đui hay sao mà hỏi chi nhiều lời vậy!

( … )


Nguyên Tú My

Read Full Post »

( … )

Đoán được suy nghĩ của Lê Công, Bất Thiên lão gia kéo chàng ra một góc nhà bàn bạc:

– Ngày mai lão gia sẽ đem công chúa về Mộc châu nhờ cháu gái của già chăm sóc, chốn kinh thành đông đúc sẽ không ai để ý đến tông tích của một đứa trẻ vô danh. Tuy đây là đất của người Thổ nhưng tướng quân cũng phải giữ lấy mình, nên mai danh ẩn tích một thời gian, chờ thời cơ khôi phục lại Nguyên triều.

Lê Công nghe nói có tình có lý, chắp tay bái tạ Sắc Bất Thiên ra ơn cứu giúp. Nằm ngủ ngon lành trong đống rơm gần đó, Hồ Quân cũng không ngờ kề từ ngày mai cuộc đời của nó sẽ bước sang một trang mới…

o0o

Kinh thành Mộc Châu nằm ở phía Tây của con sông Mã. Ở đây, khí thuận đất hoà, dân cư hội về đông đúc, tàu thuyền đậu sát mé sông buôn bán sầm uất từ sáng đến tối. Đến khi chiều xuống các tửu lầu lớn nhỏ treo đèn lồng thắp sáng cả phố phường, mời gọi khách qua đường bước vào những cuộc vui chơi thâu đêm suốt sáng. Ở một góc phố tấp nập người qua lại, có một thằng bé đầu đội nón rơm trùm hụp che khuất mặt, tay bồng một đứa con nít ngồi co ro trước cửa tửu lầu. Ai đi qua cũng động lòng thương cảm, có người bỏ xuống vài đồng bạc cắc trước mặt bố thí cho hai đứa trẻ côi cút. Khi bóng đêm đổ xuống thằng bé lại tấp tểnh địu em nó trên lưng đi về phía khu nhà lá tồi tàn ở ven sông. Đi gần đến nhà thằng bé bỗng nhanh nhẹn hẳn lên không còn cái dáng khập khễnh tội nghiệp kia nữa, chân nó bước thoăn thoắt qua đám cỏ dại bùn lầy. Trước khi vào nhà nó múc một chậu nước, cẩn thận lấy khăn lau sạch những vết bùn lấm lem trên mặt, tay chân của đứa nhỏ đang ẵm trên tay. Con bé thấy nước cười hăng hắc, đập hai bàn chân nhỏ xíu vào cái thau gỗ gõ xuống nền đất nghe lộp bộp. Thằng bé bỏ chiếc nón rơm rách rưới xuống, ánh đèn trong nhà rọi vào một khuôn mặt khôi ngô, tuấn tú. Thì ra thằng bé ăn xin đó chính là Hồ Quân, tên tiểu tử đi theo Bất Thiên lão gia về Mộc Châu sinh sống. Còn đứa bé nó bồng trên tay kia là công chúa Phương Nguyên đã được đổi tên là Tiểu My nhằm che giấu tung tích. Đứa bé thơ thiếu mẹ vẫn sống nhờ vào nguồn sữa từ những người phụ nữ có con mọn ở quanh xóm giờ lớn phổng hẳn lên dù chỉ qua vài tuần trăng.

Một người phụ nữ từ trong nhà bước ra đón lấy Tiểu My hôn vào hai má phính, cất tiếng thánh thót:

– Ái chà, tiểu tử thật ngoan. Chiều nào cũng bồng em đi chơi phố.

Hồ Quân lờ không nói, đi vào bếp lấy một tô cơm ngồi cắm cúi ăn. Một lát sau nhìn quanh không thấy ai, nó móc túi lôi ra đống bạc cắc vừa xin được chiều nay ngồi đếm rồi gói lại cẩn thận nhét vào cái ống tre giấu trên nóc bếp. Nằm trên chiếc chõng tre nhìn ra ngoài sông trăng sáng vằng vặc nó khoái chí cười thầm về cái nghiệp kiếm tiền bất đắc dĩ này. Bất Thiên lão gia mà biết được thì nó cũng chẳng toàn thây. Âu cũng là do thời thế đưa đẩy thôi! Công việc hàng ngày của nó là trông coi Tiểu My, một hôm bồng em đi xuống phố, hai anh em ngồi xuống vệ đường nghỉ chân nhìn người qua lại. Có một lão nương đi qua lầm tưởng con nhà ăn xin, móc túi cho vài đồng bạc cắc. Người đi đường qua lại cũng thấy động lòng nên bố thí ít nhiều. Hồ Quân trước đây sống cảnh nơi thôn dã, quê mùa nay thấy đồng tiền nơi phố thị sao dễ kiếm quá bèn động lòng tham. Chiều chiều mượn cớ bồng em đi chơi nó lấy bùn bôi mặt cho lem luốc rồi ra góc đường ngồi ăn mày lòng từ bi của bá tánh.

Một hôm, có thầy tăng mặc áo cà sa xốc xếch, người đầy hơi rượu đi ngang qua cầm đùi thịt chó quăng vào đầu nó. Bất ngờ, nó vội né tránh xòe tay đập mạnh vào đùi thịt bay ngược trở lại về phía lão tăng. Chụp lấy cái đùi chó, lão tăng cười ha hả tay kia vung quyền nhắm vào Tiểu My đang nằm trong lòng nó. Thằng bé né mình tránh khỏi, ôm chặt con bé vào người rồi cắm đầu chạy miết về phía sông, vừa chạy vừa la làng:

– Bớ lão sư hổ mang, vì cớ gì mà lão gây sự với con nít không biết mắc cỡ sao?

Lão tăng tung người lên cao, lộn vài vòng đã đứng trước mặt thằng bé:

– Tiểu tử, sư phụ của ngươi đâu mà để cho đệ tử phải đi ăn mày bá tánh thế này. Ngươi hãy dẫn ta đến gặp lão già Sắc Bất Thiên nhanh lên!

Hồ Quân nghe lão tăng gọi đúng tên Bất Thiên lão gia, nó biết không thể giấu diếm tung tích được nữa bèn chắp tay vái chào cung kính:

– Công công đi vắng lâu nay, hoà thượng muốn nhắn gửi điều chi tiểu tử sẽ về thưa lại.

Nguyên hoà thượng có tục danh là Tế Điên Tăng vốn là kim thân La Hán giáng phàm để giúp đời. Ngày ngày ngài ẩn dạng là một nhà sư điên uống rượu, ăn thịt để che mắt tục. Khi đi ngang qua phố thấy hai đứa trẻ ăn xin mặt mũi lem luốc nhưng hồng quang rực rỡ quanh người, Tế Điền tăng biết ngay không phải là người thường nên vờ ra quyền để dò xét. Cú đỡ đòn “Ngũ trảo cẩu thương” của môn phái Cái Bang đã nói lên được tông tích của Hồ Quân. Làm đồ đệ Bất Thiên lão gia hơn hai năm nay đủ để cho nó chống đỡ những đường quyền hiểm hóc của giới giang hồ mà nó không hề hay biết.

( … )

Nguyên Tú My

Read Full Post »

( … )

Lúc này tiếng chân đã đến sát bên cửa, một bàn tay thò vào nhấc nhẹ tấm liếp tre lên. Không chần chờ, Hồ Quân vung cây gậy sắt đập túi bụi vào tay người lạ.

– Tổ sư lão già Sắc Bất Thiên, khách đến thăm nhà mà tiếp đãi thô lỗ như vậy sao!

Nghe tiếng đàn bà kêu thất thanh, Hồ Quân vội dừng tay lại. Vất ngay cây gậy sắt vào xó bếp, nó vội vàng nâng liếp cửa lên cho một bà già bước vào. Bà lão đầu tóc bạc trắng như tuyết, mặc chiếc áo có bốn màu xanh, đỏ, tím, vàng; dung mạo thoắt già, thoắt trẻ khó đoán được tuổi tác. Bước chân vào nhà, lão bà nhìn thấy nồi cháo đang sôi sùng sục trên bếp, không đợi mời liền ngồi ngay bên cạnh bếp múc cho mình một tô cháo lớn nhưng chỉ ngồi nhìn chứ không ăn.

Bất Thiên lão gia từ trên nhà đi xuống mặt mày nhăn nhó, không nói không rằng ra điều ta đây rất khó chịu với vị khách không mời mà đến ấy. Bà lão ngồi nhìn vào đống lửa hát bâng quơ như cho chính mình nghe:

Nhị thập niên loạn

Tiểu ngã cùng ngôn

Long tại ẩn thôn

Tú my hồ điệp

Hai mươi năm loạn lạc

Có nói cũng không cùng

Rồng về thôn ở ẩn

Cánh bướm làn mi cong

Bất Thiên lão gia lẳng lặng không nói, cũng múc một tô cháo nhỏ rồi ngồi quạt cho nguội. Bà lão bước lại gần, lấy trong tay áo ra một quả bầu khô, thong thả dốc ngược chén cháo của mình, gạn lấy nước cháo rót vào cái miệng nhỏ xíu của quả bầu mà không rớt ra ngoài một giọt nào. Xong rồi bà ta dùng một chiếc bong bóng heo cột chỉ quấn hờ quanh miệng, đục hai ba cái lỗ nhỏ làm thành một bình sữa gọn gàng cho trẻ nít. Đứa hài nhi đang gào la vì đói nãy giờ, được bình nước cháo bú liền một mạch rồi lăn ra ngủ ngon lành. Lê Công tướng quân đứng nhìn cảnh ấy thầm cảm động trong lòng, lại được nghe bài thơ thâm thúy có nhiều ẩn ý trùng hợp bèn bước đến trước mặt bà lão chắp tay cung kính:

– Tiểu nhân là kẻ hèn sĩ lưu lạc đến nơi này. Gặp cảnh bối rối may gặp hiền nhân, xin người cho biết đại danh để tạ ơn cứu giúp.

Bất Thiên lão gia nãy giờ đứng sau lưng Lê Công không nói một lời nào, nghe vậy ghé vai nói nhỏ:

– Tướng công, mụ nặc nô này là Tứ Sắc Kỳ Nương. Chính là… là… vợ cũ cùa lão phu đó!

Không ngở Kỳ Nương nghe thấy điều vừa nói, sắc mặt đang trắng nhợt chuyển sang màu đỏ hổng. Lão bà vung tay lên, những lá bài đầy màu sắc như một đàn bươm bướm từ trong tay áo bay ra, phóng tua tủa về phía Bất Thiên lão gia. Lê Công hơi bất ngờ trước đòn tấn công của Kỳ Nương, chàng tính vung gươm ra đỡ cho lão già tội nghiệp đang ôm đầu chạy quanh nhà, kêu trời kêu đất; nhưng nghe thấy chưởng lực từ luồng gió bay quanh chàng biết ngay lão bà bà chỉ dọa ngầm chứ không hạ chiêu độc thủ. Cái trò vừa đánh vừa xoa, người công người thủ nhịp nhàng như đang theo một đường lối quen thuộc của hai ông bà già làm chàng phải nén bụng cười thầm lên tiếng giảng hòa:

– Đại nương, tiểu nhân đây có mắt cũng như mù. Nghe danh tiếng đại nương đã lâu, nay được hân hạnh diện kiến xin người dừng tay cho tại hạ được cơ hội thỉnh giáo vài lời vàng ngọc.

Tứ Sắc Kỳ Nương đang bừng bừng cơn giận lão già dịch ăn nói vô duyên, nghe Lê Công là một danh tướng trẻ lại biết nhún nhường, hạ mình nói chuyện ngọt ngào nên nguôi giận thu hồi những lá bài trở về tay áo. Trong giới võ lâm cao thủ, ai ai cũng biết đây không phải là những lá bài bình thường vô dụng. Đó là một món vũ khí lợi hại của Kỳ Bang giáo phái. Những lá bài nhỏ bé mỏng mảnh có tác dụng sắc bén chẳng kém gì gươm đao to lớn. Thêm nữa, đồ đệ của Kỳ bang luôn là những tay chơi bài kỵ phách, khó ai địch nổi. Những sòng bạc lớn nơi kinh thành rất sợ đệ tử của Kỳ bang trà trộn vào đánh bạc nên phải ra hẳn luật cấm, dán bố cáo ngay cửa cấm đồ đệ phái Kỳ bang vào sòng bài đánh bạc. Cũng may luật lệ giáo phái cũng rất nghiêm khắc, đệ tử Kỳ bang không được đánh bạc ăn tiền nên đã tránh được nhiều xung đột vô lý giữa giáo phái và quan quân nhà vua.

Tứ Sắc Kỳ Nương xưa kia là một thiếu nữ yêu kiều con gái duy nhất của đại phú gia Từ Thông, chủ nhân của sòng bạc lớn nhất kinh thành thời ấy. Từ ngày còn bé Kỳ Nương nổi tiếng thông mình, ăn nói sắc sảo khó ai bì kịp. Đến năm Kỳ Nương lên mười, đại phú Từ Thông gửi con theo làm đệ tử môn phái Kỳ Bang dụng ý học lóm mánh khoé của những cao thủ kỳ gia hòng trở về giúp cha gây dựng sự nghiệp. Nào ngờ Kỳ bang là chánh giáo, Tứ Sắc Kỳ Nương học đủ những tuyệt chiêu võ nghệ cũng như kỳ pháp cao cường nhưng không thể trở về với chốn thương trường được nữa. Chuyện oái oăm hơn nữa, chẳng biết vì mối tiền duyên tơ nguyệt nào Kỳ Nương lại đem lòng quyến luyến và thành thân với môn đệ của Cái Bang là Sắc Bất Thiên.

Sắc Bất Thiên theo trường phái Cái Bang, quen tính lông bông, thích ngao du sơn thủy. Mỏi lưng thì lấy đất làm giường, lấy trời làm nhà; cơm hàng cháo chợ chẳng hề nan. Sau khi lấy vợ bị gò bó vào khuôn phép nên tỏ ra bực bội khó chịu, thỉnh thoảng lão nổi máu giang hồ bỏ nhà đi lang bạt lúc năm bữa, khi nửa tháng mới về. Phần Kỳ Nương vốn quen tính được yêu chiều của con nhà quý tộc nay lại chung sống với một lão Cái Bang lúc nào cũng lôi thôi, cẩu thả, không biết chiều chuộng như ý nên ngày càng bực bội bẵn gắt luôn mồm. Tài ăn nói sắc sảo thời thiếu nữ dần trở thành đa ngôn, đa sự đôi lúc cũng chua ngoa đanh đá chẳng kém gì mấy mụ bán cá ở chợ ven sông. Sau nhiều mâu thuẫn dồn dập, họ chia tay nhau cứ tưởng không bao giờ gặp lại. Sự thăm viếng bất ngờ của Kỳ Nương tối nay hẳn không phải vô tình mà có.

Chẳng là từ ngày chia tay Sắc Bất Thiên, Kỳ Nương mang dạ ưu buồn thường trách than duyên phận ông tơ bà nguyệt kết se vô cớ. Trở về Thạch Sơn, Kỳ Nương quyết bỏ công nghiên cứu Tiên Thiên Lý Số, Tử vi mệnh tướng để lý giải những khúc mắc của cuộc đời. Bước vào mới thấy bể học mênh mông phận người khó vượt qua thiên định. Tối qua, trong lúc đang thiền tịnh trên đỉnh núi Thạch Sơn bỗng thấy ngôi sao Thiên Kim Tinh tỏa ánh hồng quang rực rỡ chiếu về phương Nam. Kỳ Nương lão bà bèn đem bộ bài Tứ sắc ra xem để đoán giải điều kỳ lạ ấy. Khi tung bộ bài lên trời có bốn lá bài cứ quấn lấy nhau, bay lơ lửng trên không. Mở từng lá ra xem thì thấy có hình cánh bướm, viên ngọc đá, cây cung và đôi chân mày cong vút.

Điều này có liên quan đến câu cuối “Tú my hồ điệp” mà Lý Công đã nghe Tứ Sắc bà bà đọc nhưng vẫn không lý giải được ý nghĩa bài thơ. Chàng gặng hỏi thêm thì bà ta chỉ trả lời một câu: “Thiên cơ bất khả lậu!” rồi phất tay áo ra cửa đi mất.

Thằng bé Hồ Quân đi theo Bất Thiên lão gia được hơn hai năm nay nhưng chưa bao giờ biết được bí mật về đời tư của lão. Tối nay quả có nhiều chuyện ly kỳ khiến nó rất thích thú, buộc miệng nói:

– Nè, công công già khú vậy mà kiếm được bà bà coi cũng đặng lắm chớ hả!

Sắc Bất Thiên vẫn chưa hết bàng hoàng về cuộc gặp gỡ bất ngờ với người xưa nên cũng quên không cho thằng nhỏ một cái cú đầu về tội lộng ngôn. Được đà nó nói tiếp:

– Ở nhà chỉ có ba người chúng ta là đàn ông. Nếu công công biết ngọt ngào hơn nữa, giữ bà bà ở lại giúp nuôi nấng con tiểu tử to mồm kia thì đỡ khổ biết mấy!

Lê Công nghe vậy giật mình ngẩn ngơ nghĩ:

– Ta có nhiệm vụ phò tá, bảo vệ sinh mạng cho công chúa nhưng chuyện đàn bà nuôi con làm sao ta biết đây hở trời!

( …. )

Nguyên Tú My

Read Full Post »

Đứng trên núi Thạch Sơn nhìn xuống, sông Mã có địa hình như một con ngựa hoang tung vó về phía Đông. Con nước hiền lành dẫn từ thượng nguồn chảy xuống nhưng khi rẽ ngang trên lãnh địa của người Thổ đi qua một vùng nước xoáy hiểm trở tạo nên luồng nước cuốn dữ dội trước khi đổ ra biển cả. Vào mùa nước lũ, nước sông dâng cao gây cảnh lụt lội tàn phá ruộng nương nhà cửa nên ít người đến cư trú lập nghiệp ở mảnh đất phía Đông Nam này. Làng xóm lèo tèo dăm ba nóc nhà của những người di dân, lâu dần lập nên làng mạc. Dân làng toàn là dân tứ phương hội tụ về đây sinh sống bằng những nghề hạ bạc ở ven sông. Trong làng có việc gì người ta thường mang lễ hương ra sông cúng bái cầu khẩn. Họ chung nhau lập một nếp đình lấy tên làng Thiên Mã và cúng tế lể vật hàng năm cầu được phong đăng hoà cốc.

Vào năm Quý Thìn thời vua Nguyên Khang vừa thất thủ bời quân nhà Hán, giặc giã nổi lên loạn lạc khắp nơi, lương dân khốn khổ trăm bề. Làng Thiên Mã cũng không thoát khỏi cảnh nghèo khó, khốn khổ cộng thêm tai ương từ thiên nhiên đem đến. Bấy giờ sông Mã đang mùa lũ, mặt sông nở rộng gấp bốn năm lần. Gió lốc thổi về, mưa đổ nước xoáy cuốn lên dữ dội khiến ai ai cũng kinh sợ lo tìm nơi đất cao trú ẩn. Vậy mà ở dưới làn mưa bão có một chiếc bè đang tìm cách băng sông. Chiếc bè mỏng mảnh như chiếc lá tre đơn côi, bập bềnh giữa dòng nước đang chảy xiết. Đứng đầu mũi thuyền là một người vóc dáng to lớn, chiếc áo tơi bay phần phật trong gió bão. Sức lực của người ấy cũng phải là dạng phi thường mới đi qua được vòng nước xoáy tử thần trong mùa lũ này. Dù rằng phải lo chống trả với bão lũ nhưng thuyền nhân vẫn giữ đúng một tư thế cong người về phía trước, thỉnh thoảng lại kéo chiếc áo tơi như đang che chở một vật gì quí giá ở trước ngực.

Từ trong một căn nhà nhỏ nép bên triền núi cách con sông chừng vài chục trượng có hai người đứng nhìn ra con sông lớn. Một ông già râu tóc xồm xoàm, ăn mặc cẩu thả lôi thôi như phường cái bang; còn đứa trẻ mặt mũi lại khôi ngô tuấn tú khoảng chừng bẩy, tám tuổi có vẻ bồn chồn lo lắng trước cảnh sóng gió ba đào ở ngoài kia. Đứa trẻ níu tay ông già:

– Bất Thiên công công còn chần chờ chi nữa. Chúng ta hãy ra kéo thuyền cứu họ đi chứ!

Ông già hậm hực vung tay gõ vào đầu thằng bé mắng rằng:

– Tiểu tử Hồ Quân chỉ lo chuyện bao đồng làm phiền đến thân già này. Ta đang ăn ngon ngủ yên giờ phải dấn thân vào mưa bão!

Miệng nói nhưng chân lão đi thoăn thoắt nhanh nhẹn như trai tráng tuổi hai mươi. Ông già kéo chiếc thuyền gỗ hướng về phía sông, Hồ Quân chạy vội theo sau vai vác cuộn dây thừng lớn phòng khi hữu sự.

Trời đã về chiều, ngoài sông mưa mù phù dầy chẳng thấy đâu là bến bờ. Tiếng sóng đập ầm ầm bên hông chiếc thuyền nan nghe như sấm động nhưng nhìn cách lão điều khiển chiếc thuyền luồn lách theo luồng nước thì biết ngay đúng là một tay lão luyện trên sông nước. Chèo đến gần chiếc bè lạ, bóng tối nhạt dần nhuễnh nhoãng trong mưa, lờ mờ hiện ra gương mặt của thuyền nhân. Ông lão chắp tay bật lên thảng thốt:

– Lê Công tướng quân, vì đâu lưu lạc đến nơi này!

Thì ra thuyền nhân chính là Tổng quản cấm vệ quân Lê Chính Công, người võ tướng cận thần bảo vệ Nguyên Đế. Khi kinh thành thất thủ, Nguyên Đế không muốn đầu hàng quân giặc nên uống thuốc độc tự vận. Võ tướng Lê Công đơn thương độc mã bảo vệ Nguyên Phi tính đường vượt con sông dữ chạy trốn về phía Nam. Nguyên Phi vốn phận liễu yếu lại vừa sinh hạ một công chúa chưa đầy con trăng nên giữa đường đuối sức mà chết. Trước phút lâm chung, Nguyên Phi trao công chúa cho võ tướng Lê Công cùng với chiếc hộp vàng đựng ngọc ấn của Nguyên triều mà trăn trối:

– Ta biết sức mình không đi nổi đến phương Nam. Tướng quân hãy đem Phương Nguyên công chúa tìm nơi lẩn trốn chờ ngày khôi phục lại Nguyên triều.

Nói xong Nguyên Phi thở hắt ra mà chết. Lê Công là một võ tướng đã từng vào sinh ra tử mà không nén được lệ sa, đành gạt nước mắt đắp một nấm mộ sơ sài cho Nguyên Phi rồi đặt lên đó một tảng đá lớn để lưu dấu về sau tiện bề tìm kiếm.

Tận hết khí lực còn lại, Lê Công kết bè quyết định vượt sông khi trời đang mưa lũ nhằm xoá bớt dấu vết và đánh lạc hướng địch quân đang đuổi phía sau. Vì đã có ý định trước nên không khó khăn cho Lê Công kết một chiếc bè làm phương tiện qua sông. Nhưng ý tưởng vượt con sông lớn khi đang bão lũ quả thật liều lĩnh. Khi vừa bước qua chiếc thuyền của lão ông thì chiếc bè không người điều khiển bị sóng dữ đập tan rồi cuốn trôi đi mất biệt.

Về đến nhà mọi người lóp ngóp ướt như chuột lột. Lê Công cởi chiếc áo tơi trên người cẩn thận tháo cái bọc lớn nãy giờ cứ đeo dính trên người đặt xuống đống rơm nơi góc nhà. Hồ Quân ghé mắt nhìn, giật nẩy người la lớn:

– Ối cha mẹ ơi, con gì thế này!

Bất Thiên lão gia xẵng giọng:

– Con gái chớ con gì! Tiều tử mau đi nhóm lửa sưởi ấm nhanh lên!

Miệng nói, tay vung tính gõ vào đầu thằng bé nhưng nó đã lanh lẹ né tránh. Đứa bé đang được nằm êm ả trong lòng Lê Công từ nãy đến giờ chợt ré lên khóc thét, tiếng vang lanh lảnh sắc lẻm. Hồ Quân chạy vội ra phía sau lấy tay bịt hai tai, vừa đi nó vừa lẩm bẩm:

– Tai ương, tai ương! Biết thế lão gia chẳng đem cái của nợ này về nhà làm chi cho bận xác.

Thằng bé hậm hực đi xuống bếp bắt con vịt cồ to nhất nấu cháo đãi khách. Rõ ràng tâm tư nó rất bấn loạn mỗi khi nghe tiếng con bé khóc la ở trên nhà. Nó thẩy nguyên con vịt vừa làm lông xong, trong bụng vẫn còn nguyên cả bộ đồ lòng vào nồi nước sôi mà không hề hay biết. Đang suy nghĩ mông lung, bỗng nghe ngoài cửa bếp có tiếng dép lẹp kẹp. Tuy ngoài trời mưa đã tạnh bóng đêm đổ xuống tối tăm tăm, giờ này có người luồn lách vào cửa hậu ắt là phường tà đạo. Hồ Quân vội cầm cây sắt cời than đứng nép vào góc bếp.

( … )

Nguyên Tú My

Read Full Post »