Feeds:
Posts
Comments

Archive for the ‘Truyện ngắn’ Category

Chiếc xe lam ngừng ở đầu ngõ, thả xuống bốn đứa con nít và một người lớn. Lũ nhóc vừa leo xuống xe là chạy rầm rầm vào xóm bỏ mặc người lớn đang đứng loay hoay móc túi trả tiền.

Xóm ở quê nhà này cách nhà kia bằng một bờ dậu xanh lá, vườn rộng trồng cây ăn trái lấp ló ra cả bờ rào. Tôi bé nhất lúp xúp gồng chân chạy theo sau các anh, chỉ tay lên chùm trái căng tròn lúc lỉu trên cao: “Xoài kìa!”, “Bông Bụp kìa!” nhưng cũng không làm chậm được bước chân nôn nả của bọn con trai. Chúng tôi dừng trước một căn nhà bằng gỗ sơn xanh nằm lọt thỏm giữa một khu vườn rộng rợp bóng cây mát rượi. Vừa đẩy cánh cửa hàng rào gỗ bước vào sân thì một đám con nít ở trong nhà bổ nhào ra, ôm lấy nhau hét ầm lên mừng rỡ: “Về rồi hả!”

Mọi năm cứ vào mùa hè đám trẻ thành phố lại kéo nhau về nhà ông chú ở tỉnh lỵ cách Sài Gòn ba mươi cây số. Nhà ở xa phố chợ nên còn giữ được nhiều nét quê thanh bình. Con đường đất dẫn vào xóm đi ngang một cánh đồng trống lơ thơ vài ngôi mộ xây lẫn trong đám cỏ năng, cỏ ấu mọc xanh dờn.

Từ sáng đến chiều tụi nhỏ chạy chơi khắp xóm. Cầm đầu nhóm là anh tôi, thằng con trai mười tuổi, còn lại là một lũ nhóc sàn sàn như nhau. Lúc thì bá cổ bá vai thân thiết, lúc lại quay ngoắt ra cãi nhau chí choé như một bầy vịt con. Bạn nhớ lại xem, tuổi thơ của bạn đâu phải lúc nào cũng thái bình thịnh trị mãi đâu. Có nhiều chuyện cỏn con bắt đầu rất vô cớ, như vầy:

Con bò đen của nhà ai không biết thường hay được cột cạnh bờ rào của bãi đất trống gần nghĩa địa hôm nay đã xổng chuồng. Không giống như mấy con bò trong bài mẫu làm văn lớp Tiểu học mà lũ trẻ đã được học thuộc lòng như “Nhà em có nuôi một con bò được dùng để kéo xe, chở củi. Con bò có bộ lông vàng, đôi mắt to ướt hiền lành.” Một con bò đáng yêu như thế thì đã không sinh chuyện. Con bò đen ở nghĩa địa là bò điên, thằng Sơn, con ông chú bảo vậy khi chúng tôi đang ngồi đong đưa như một lũ khỉ con trên các chạc ba của mấy nhánh ổi.

Anh tôi ra vẻ hiểu biết:

– Ở Tây Ban Nha người ta chơi trò đấu bò điên. Thằng đấu bò mặc áo đẹp lắm, tao coi hình rồi. Nó cầm cái khăn đỏ thiệt to để dụ con bò. Tụi bay có biết là bò điên kỵ màu đỏ không?

Nói đến đây tự nhiên cả lũ xoay qua nhìn tôi chăm chú. Thằng Sơn gật gù:

– Ờ, Tí cô nương mặc cái áo đỏ chét này đi qua nghĩa địa bò điên rượt là cái chắc!

Anh tôi nẩy ra một sáng kiến. Bạn cũng biết đó, sáng kiến từ thằng con trai mười tuổi nhất là khi chúng không còn chuyện gì để làm (à quên, để phá) thường không phải là sáng kiến hay.

Tôi thay chiếc áo tơ đỏ đưa cho anh tôi căn dặn:

– Không được làm dơ, làm rách áo em nghe. Nếu không em về méc mẹ đó.

Giật cái áo trong tay tôi, ông anh trợn mắt:

– Tao coi đấu bò một trăm lần rồi. Kinh nghiệm đầy mình nè! Tụi bay nhớ đứng xa xa coi tao biểu diễn màn đấu bò có một không hai này.

Tôi biết anh tôi chỉ ba xạo lấy le với đám con nít nhưng cũng đành hy sinh cái áo đẹp của mình để được xem trận đấu bò lịch sử.

Cả đám con nít dắt nhau đi ra bãi cỏ ngoài nghĩa địa. Anh tôi dẫn đầu với chiếc áo tơ đỏ bay phất phới trong tay như một nhà đấu bò điệu nghệ thực thụ. Áo bỏ trong quần, anh tôi lấy dây thung túm cái ống quần pyjama gọn gàng dù rằng đôi dép nhựa dưới chân có làm cho anh tôi bớt đi vẻ oai hùng phần nào.

Con bò đen đang thong thả gặm cỏ bên hàng rào. Một lũ chúng tôi đến gần mà nó cứ tỉnh như pha. Bọn con trai còn chúm tay lên miệng hú họa giống Tặc Giăng gọi khỉ mà nó vẫn không thèm ngước mắt lên nhìn. Người ta bảo “dĩ thực vi tiên” thiệt là đúng quá. Đến loài bò còn quan trọng miếng ăn huống chi con người. Oái oăm thay chúng tôi lại quên mất người ta cũng bảo “trời đánh còn tránh miếng ăn” nên đến khi chàng đấu bò Tây Ban Nha nhẩy chổm chổm trước mặt nó, tay vung vẩy cái áo đỏ chét, miệng xổ một tràng amigo, amiga rất ư là… Tây Ban Nha thì con bò đen nổi điên thật. Nó hộc lên một tiếng, bứt dây lủi sập cái hàng rào mỏng mảnh rượt chúng tôi chạy trối chết.

Chàng đấu bò chân dài nhất, chạy nhanh nhất, chàng vất cả cái áo đỏ yêu dấu của tôi cắm cổ chạy trước mở đường sống. Cả đám con nít hớt hải chạy theo sau. Lúc đó chẳng ai nhớ ra rằng tôi là đứa bé nhất, lùn nhất nên chân cũng ngắn nhất đang lúp xúp chạy ở cuối cùng. Khoảng cách giữa con bò và tôi ngắn dần… Tôi sợ quá mà không la lên được tiếng nào, chỉ thấy mắt hoa lên và đầu gối như muốn khuỵu xuống. Tôi té xuống đất, mắt nhắm nghiền nghe tiếng bịch bịch thật ồn không rõ là bước chân bò hay tim tôi đang đập nữa. Khoảnh khắc đó chỉ trong giây phút mà tôi cảm thấy dài như thế kỷ. Câu này là về sau tôi xạo ra thêm nhưng bạn tin tôi đi, không có gì thảm hơn khi bia đá của bạn có câu khắc trên mộ “hưởng dương được tám năm, chết vì bị bò đá!”

Tôi nằm nhắm tịt mắt, chờ đợi lưỡi hái tử thần đến đem tôi đi. Tiếng phì phò của con bò điên gần sát, cảm giác ẩm ướt, hâm hấp nóng lướt qua mặt. Chỉ còn một giây, một giây nữa thôi. Một giây nữa thôi là tui tiêu đời… y như trong bài hát sướt mướt anh tôi vẫn nhại theo cái radio. Tôi ngửi mùi cỏ ướt, mùi hôi hôi của nền đất ẩm phân bò. Tám tuổi, tôi chưa muốn chết. Tôi phải sống! Thu hết can đảm tôi vùng dậy mở to mắt ra nhìn. Con bò đang đủng đỉnh ngoắc đuôi quay về bãi cỏ ở nghĩa địa. Lũ con nít bu quanh kéo tôi ngồi dậy. Lúc này tôi mới hoàn hồn bắt đầu mếu máo, câu đầu tiên là: “Cái áo đỏ của em…”

Anh tôi đang ân hận vì đã bỏ em chạy trước nên tìm cách dỗ dành:

– Thôi nín đi, rồi anh đền cái áo khác đẹp hơn. Mà con bò nó có làm gì em đâu. Nó chỉ… liếm em thôi mà!

Eo ơi, hèn chi cái mặt tôi hôi rình và ướt nhèm nhẹp!

Lũ trẻ phá ra cười. “Ha ha… Hoàng tử Bò điên hun Tí cô nương!”

Nguyên Tú My

Read Full Post »

Tranh: La Vương

Buổi chiều con nước dâng đầy khúc sông. Tiếng chim riú rít gọi nhau bên bụi ổi, chúng lách tách chuyển từ cành cây này qua cành nọ. Trời gió nhẹ nhẹ thổi mấy sợi tóc rũ loà xòa rớt xuống mặt. Nhiên rũ chiếc áo đang giặt, đứng dậy vuốt tóc ngắm nhìn những cụm lục bình tim tím trôi mênh mông theo dòng nước. Con sông lững lờ qua xóm vắng, chơ vơ, buồn cô liêu chia cắt phố chợ sầm uất với xóm nghèo vắng vẻ… Rất ít người ở phố chợ đi qua bên này sông. Khách quen thuộc của ông lái đò già nửa chỉ là những người phụ nữ mang đầy gồng gánh. Mùa nào thức đó. Có khi là những rổ rau cải xanh ngắt lấm tấm bông vàng, có khi là những bó đọt khoai xanh muớt còn lấp lánh sương đêm.

Ngày ngày chuyến đò đưa Nhiên hai buổi đi về qua sông đi học. Con sông và chuyến đò ấy đã gắn liền với cuộc đời của Nhiên như những mái chèo của ông lái đò. Quen thuộc theo từng con nước. Cuộc sống của người dân bên này dòng sông trôi bình thản hiền hòa như con nước vỗ về những bông hoa lục bình tím buồn ngăn ngắt.

Mẹ yêu hoa lục bình lắm. Ngày sanh Nhiên mẹ muốn đặt tên con là Lục Bình nhưng mẹ sợ rồi cuộc đời lại nổi trôi không biết đi về đâu như cánh hoa tím chơ vơ, nên chọn tên Nhiên. Có nghĩa là hồn nhiên đó. Mà Nhiên thấy mình có chút hồn nhiên nào đâu. Nhà nghèo, con đông. Nhiên nghiễm nhiên trở thành bà mẹ trẻ trông coi đàn em lút cút. Buổi sáng đi học. Chiều về tóc bới tó, quần xăn tới đầu gối, làm đủ mọi chuyện từ trong nhà ra ngoài ngõ. Con gái đương thì mà hai bàn tay thô ráp. Mẹ cứ nắm lấy tay Nhiên mà xót xa hoài. Còn Nhiên chỉ cười, mẹ ơi cuộc đời đâu chỉ gói trong một cái tên.

Mà Nhiên nói thật lòng đó. Nhìn quanh những đứa bạn của Nhiên mà xem. Con Hồng Phúc học hết phổ thông có người mai mối lấy ông chồng Đài Loan còn lớn tuổi hơn tía nó. Về thăm nhà, hột xoàn đeo lóng lánh. Ai cũng khen nhà nó có phước mà sao Nhiên thấy mặt nó buồn ruời rượi. Nhiên biết nó yêu anh bạn cùng lớp, chỉ vì nghèo mà không dám đến với nhau. Ngày cưới nó mặc chiếc áo xoa rê trắng, trắng như màu tang. Bước chân xuống đò nó ngoái lại nhìn Nhiên. Đôi mắt buồn ngơ ngác. Dòng sông tiễn đưa thời con gái của nó trôi qua một bến khác. Xa lạ, lạnh lùng… Cuộc đời đâu chỉ gói trong một cái tên.

Nhìn nhà bà chủ tiệm vàng Quý Long kìa. Có thằng con trời đánh mà Nhiên ghét cay ghét đắng. Cả ngày chỉ thấy nó đứng xớ rớ trước cửa mấy quán bia ôm, đợi Nhiên đi học qua lại là rà xe máy nổ bịch bịch theo sau lải nhải :“Cô ơi, cô lấy chồng đi cô…” mà Nhiên chỉ muốn đạp cho nó một cái lọt xuống ruộng luôn cho rồi. Hứ! Cái thứ giun đất chứ Long với Phượng gì trời! Mấy bữa trước, bà chủ cho người đem bánh trái tới nhà Nhiên dạm hỏi nữa chớ. Bà mối miệng đánh son đỏ chét như mỏ con két của chú Tàu bán chạp phô ngoài chợ… Mặc bộ đồ nhiễu bóng lưỡng, tay đeo đầy vàng sáng chói, cái miệng sang sảng nghe muốn lủng lỗ tai. Cô hai chịu ưng cậu chủ Quý Long là phước đức trời cho, hổng phải ai muốn cũng được à nghe. Con gái học làm chi cho khổ. Cô giáo gào khàn nước miếng nghèo cũng vẫn nghèo. Làm bà chủ tiệm vàng hổng sướng hơn sao?

Nhiên nằm lì trong buồng không ra, giận tím gan tím ruột. Mẹ vẫn kiên nhẫn nhỏ nhẹ. Cháu còn đang đi học chưa nghĩ đến chuyện chồng con. Chỉ có lũ em Nhiên là háo hức nhìn lom lom mấy hộp bánh tây đắt tiền. Mẹ trả lại lễ cho người ta. Thấy mấy đứa em nhìn theo hộp bánh thèm thuồng mà Nhiên ứa nước mắt. Ngày hôm sau, Nhiên đập heo đất cầm tiền đi mua mấy hộp bánh đem về như tạ lỗi với đàn em. Mẹ không nói gì, chỉ nhìn theo Nhiên mà thở dài…

Ừ, tiếng thở dài của mẹ sao giống như tiếng thở dài hôm Nhiên ngồi sau xe cùa anh. Hôm đó, trời mưa tầm tã. Tan học về Nhiên đội mưa đi ra bến đò. Gặp anh ở đâu đó trờ tới, cười lấp lánh trong mưa. Sao Nhiên đi học về có một mình vậy? Lúc nào cũng có một mình chứ mấy mình nữa mà hỏi. Thằng trời đánh con bà chủ Quý Long chỉ săn đón Nhiên lúc trời khô ráo. Còn bữa nào mưa gió thì nó trốn biệt trong mấy cái quán karaoke rồi! Cái tướng ốm nhách vai so như nó Thiên Lôi giáng cho một cái chỉ có nước nằm thẳng cẳng!

Nghe anh hỏi sao thấy ghét ơi là ghét! Lâu lắm rồi mới gặp anh, mà Nhiên cứ làm mặt tỉnh khô lùi lũi cúi đầu đi. Lên xe anh đưa về. Trời ơi nói như ra lệnh! Vậy mà Nhiên cũng vẫn ngồi sau xe anh nghe tim mình như muốn rớt ra khỏi lồng ngực. Con đường đầy ổ gà lóc xóc. Trái tim Nhiên cũng lóc xóc theo từng câu nói của anh.

Anh kể chuyện đi học xa bôn ba lắm. Anh phải vừa học vừa làm nên đâu có thì giờ về thăm nhà dù rằng rất nhớ (khúc này hổng nói nhớ ai!) Lấy hết can đảm Nhiên nói: “Sao anh không viết thư về cho Nhiên?” Anh hỏi lại: “Nhiên nói gì?” Nhiên trả lời tỉnh rụi: “Nhiên đâu có nói gì đâu!” Mưa rơi, gió thổi câu nói từ trong đáy lòng Nhiên bay đi mất rồi!

Anh nói quê mình nghèo quá, đến cái cầu cũng không có. Đợi anh học xong, anh sẽ về xây một cái cầu cho Nhiên đi dạy khỏi bước qua đò. Anh kể chuyện đi xây cầu ở miền núi. Người dân miền núi chân thật, dễ thương. Khí hậu mát mẻ nên mấy đứa con nít, cô gái má hồng như đào chín. Nhiên sống ở đó sẽ thích lắm! Đến lúc này thì trái tim Nhiên nó rớt ra khỏi lồng ngực thiệt rồi! Nhiên chỉ muốn nói, sao không ở luôn trên đó mà ngắm má đào. Về đây làm gì? Rồi xây thêm cái hồ bán nguyệt cho ai đó rửa chân nữa. Rủ rê tui lên trển làm chi cho thêm chật chỗ! Có vậy thôi mà không nói lên lời. Chỉ thấy mắt mình ướt nhèm không biết là do nước mưa hay nước mắt.

Ừ, mới nghĩ có tới đó thôi mà đã thấy mắt mình cay xè rồi. Yêu làm chi khổ thiệt. Mà anh có biết cho đâu. Cứ nhìn Nhiên cười để cho lòng Nhiên chết lịm. Đưa về đến nhà, tránh ánh mắt anh, Nhiên đi thẳng một nước. Nghe tiếng anh gọi loáng thoáng trong mưa mà Nhiên không quay lại. Quay lại để làm gì chứ? Để vướng thêm nợ, để nối thêm sầu. Để tối nằm mơ thấy anh cười trong giấc ngủ, rồi sáng dậy mới thấy mình sao lẻ loi, bơ vơ như bông lục bình tím ngắt buồn ngơ ngất ngoài bến sông kia. Trời ơi, hôm đó sao mà mưa nhiều vậy!

Nắng chiều dần tắt. Sắc vàng yếu ớt của một ngày vội tàn trên đám cỏ, Nhiên uể oải bưng thau quần áo đi trở về nhà mà lòng nặng trĩu. Bước qua bờ rào bông bụt thấy mẹ đang ngồi thổi lửa sau hè khói bay mù mịt. Nhiên nén cái sầu xuống tận đáy lòng, làm mặt tươi tỉnh bước vô. Củi ướt khói cay xè mắt mà sao miệng mẹ cười tươi rói vậy. Mẹ rút túi lấy một bao thư đưa cho Nhiên. Con có thư nè, thư của thằng Thức phải không? Nhiên lí nhí dạ trong cổ họng, nghẹn đắng khi thấy tên anh và con dấu bưu điện ở một nơi xa lắc. Cái nơi có những cô gái má đỏ môi hồng mà anh hay nhắc tới đó, thì giờ đâu mà anh còn viết thư cho Nhiên. Có phải lá thư mà Nhiên đã từng mong chờ mỗi buổi chiều khi nghe tiếng chuông leng keng của ngưòi đưa thư đi qua ngõ. Có phải lá thư mà đã một lần Nhiên dám nói lên lời ao ước với anh nhưng đã bị mưa rơi gió cuốn đi mất rồi không?

Cầm lá thư trong tay Nhiên không biết mình buồn hay vui nữa. Hèn chi anh hay nói bâng quơ, con gái khó hiểu! Nhiên còn không hiểu được mình nữa nói chi anh! Chỉ có mẹ dường như lúc nào cũng hiểu rõ Nhiên tận đáy lòng. Mẹ cười trìu mến, mở thư ra đi con, coi nó nói gì ở trỏng.

Tờ giấy trắng học trò được gấp nếp ngay ngắn. Anh vẽ một bông lục bình có màu tím ngắt và hàng chữ đầu tiên anh viết nắn nót : “ Nhiên yêu,…

Nguyên Tú My

Read Full Post »

Lan phố núi

Tranh: Nguyen Hung Son

Chiếc xe cũ kỹ vòng theo con dốc cao. Ọc ạch, mệt mỏi. Anh lơ đeo tòng teng ở đuôi xe, gân cổ lên rên ư ử: “Thành phố nào nhớ không em …” như đập vào tai của đám hành khách đang bị nhét như cá hộp trong xe. Cứ mỗi lần đến đoạn: “Thành phố nào vừa đi đã mo…o…ỏi… ư…ư …” anh ta lại luyến láy cứ làm như trên đời này chỉ có mình anh và Chế Linh mới biết luyến láy chữ “mỏi” đó không bằng. Bà hành khách mập béo bên cạnh tìm cách bắt chuyện sau khi đã đánh một giấc no nê trên vai tôi, một thằng người chỉ toàn xương với da, lại bị cuộc tình dở dang nhéo đi bớt đi vài kí lô vì buồn phiền: “Cậu lên đây để làm gì?”

Ừ! cũng chẳng biết tôi lên đây để làm gì nữa. Như buổi sáng hôm qua. Ngẩn ngơ cầm tờ công lệnh trong tay, nhìn bộ mặt làu nhàu của Xếp mà tặc lưỡi. Cũng nên rời khỏi thành phố này một thời gian. Rời khỏi cái màn hình vi tính ngày nào cũng phải dán mắt vào đó ít nhất tám tiếng. Rời khỏi cái điện thọai cứ ré lên từng cơn vào lúc chập choạng tối cộng thêm vài lời vòi vĩnh của người yêu bé nhỏ. Toàn là yêu sách như thể nàng vốn sinh ra chỉ để làm hoàng hậu. Cuộc tình Trương Chi – Mỵ Nương của thế kỷ 21 cũng chẳng khá hơn chuyện ngày xưa là mấy. Mỵ Nương vẫn phơn phởn môi son má phấn phóng Dylan vù vù trên phố. Nhơn nhởn, tươi mát. Còn chàng Trưong Chi đang ngồi bẹp dúm, làu nhàu trên chiếc xe thồ này mong quên đi mối tình chưa được một lần lãng mạng dìu em đi giữa trời mênh mông.

Anh phụ lái vỗ đùng đùng vào hông xe. Tới rồi nghe bà con. Cửa mở ra thả xuống một đám hành khách rũ rượi, phờ phạc. Hành lý của tôi chẳng có gì nhiều. Chiếc va ly nhỏ để mấy bộ quần áo và vài quyển sách. Nói tên nơi mình muốn tới với anh phu xe ngựa. Ngồi yên trên băng ghế sau xọc xạch theo nhịp bước của chú ngựa già, bỗng nhiên tôi cảm thấy lòng thanh thản lạ. Quanh cảnh chung quanh không đến nỗi tệ hại như tôi tưởng. Đồi núi xa xa thấp thoáng dưới màn sương. Những căn nhà rải rác bên đường bé nhỏ hẳn đi giữa những hàng cây cao vút. Khi đi ngang qua chiếc cầu đang xây dở dang. Nhìn xuống dòng nước trong xanh bên dưới. Ánh sáng còn lại của buổi chiều tà ném xuống mặt nước thành những vì sao nho nhỏ, lấp lánh chói loà. Có một mùi hương thoang thoảng đâu đây. Ngọt ngào đến dễ chịu. Anh phu xe chỉ xéo qua bên chân cầu. Một vườn lan nằm cuối con dốc …

Phải mất mấy ngày sau, tôi mới thực sự vào việc được. Bù đầu gạch gạch, vẽ vẽ ban đêm. Lang thang dưới chân cầu ghi ghi, chép chép ban ngày. Càng dấn sâu vào tôi càng nhận mình rõ là dở hơi khi không đi vác vào thân cái công trình dở dang này. Anh chàng kỹ sư thiết kế trước quả là một tay bê bối. Tôi lôi ra được bao nhiêu là kiếm khuyết trên cái đồ án xây dựng của anh ta. Nghe nói anh chàng đã bị kéo về sở, đang chờ xử lý vì dính vào một vụ bê bối nào đó.

Nơi tôi ở không xa chiếc cầu này lắm. Mỗi buổi tối mệt mỏi tôi thích lang thang ra chân cầu ngồi ngắm ánh trăng lung linh soi bóng bên dòng nước và nghe mùi hương lan thoang thoảng bay quanh. Đó là lúc dễ chịu nhất trong ngày. Đam mê công việc như cuốn hút tôi vào những bận rộn. Tôi lăn xả vào công trình với một nhiệt tình tưởng như đã mất từ lâu lắm rồi. Nhìn những nụ cười chân chất, những ánh mắt hiền hòa của người dân miền núi đặt hết tất cả những ước vọng của họ lên chiếc cầu đang xây. Tôi tự nhủ lòng. Sự lừa dối có thể đến trong giây phút nhưng mặc cảm tội lỗi vẫn kéo dài. Có khi cả một kiếp người. Tôi không thể lừa dối những con người chân chất này được. Tôi tỉ mỉ, xét nét khi kiểm tra công trình như một bà mẹ chồng khó tính. Đôi khi tình cờ thấy bóng mình bên dòng nước, tôi chợt giật mình vì thấy mình có một bộ mặt làu nhàu giống hệt Xếp!

Rồi công việc cũng trôi qua êm ả. Chiếc cầu đã hoàn thành. Bây giờ là lúc tôi có thể hưởng thụ khoảng thời gian còn lại trước khi trở về cái thành phố đầy bụi bặm kia. Quyết định ghé thăm vườn lan đã bao lần bị trì hoãn vì bận rộn. Sáng nay mang tâm trạng trống rỗng của một ngày cuối tuần rảnh rỗi. Tôi lang thang theo con dốc đi xuống vườn lan. Ngôi nhà nằm cô độc gìữa khu vườn. Kiểu xưa. Lạnh ngắt. Quanh nhà cỏ mọc ẩm ướt. Vài bóng người thấp thoáng bên những giò lan trông cũng cũ kỹ như cảnh vật chung quanh. Tôi lang thang ngắm những chậu lan còn lấp lánh sương đêm. Dắt tôi đi trong vườn, người bõ già chậm rãi giải thích cặn kẽ cách trồng lan, nuôi lan. “Nuôi lan phải nâng niu, phải thương yêu, quý trọng. Nếu bị bỏ rơi nó sẽ chết trong buồn tủi.” Nghe giọng nói của ông, nhìn bàn tay gầy guộc nâng nhẹ từng cánh hoa mỏng manh, tôi biết ông có một đam mê diệu kỳ với loại hoa hiếm quý này.

Cả một thế giới đầy hương sắc lung linh trong ngôi vườn bé nhỏ. Lan Tiểu Hồ Điệp có những cánh nhỏ xíu vàng ươm như những cánh bướm bay chập chờn trong nắng. Ngọc Lan trắng muốt thon thả, dịu dàng như bàn tay cô gái mười tám. Phong Lan kiêu sa quý phái vươn cánh rực rỡ khoe sắc dưới ánh nắng ban mai. Biết tôi là người xây dựng chiếc cầu, ông tặng tôi một giỏ lan vàng có sắc tím lấp lánh giữa nhụy. Chưa bao giờ tôi nhìn thấy một giỏ lan đẹp như vậy. Lúng túng cầm tiền trong tay mà không dám ngỏ ý. Đời sống dạy tôi thêm một điều, đôi khi có những tấm lòng không thể trả bằng tiền được.

Về đến nhà, tôi treo giỏ lan ngay bên cửa sổ bàn làm việc. Đêm đến, nhắm mắt chập chờn trong mộng mị tôi lại thấy mình đi trong một rừng lan. Giật mình tỉnh giấc mồ hôi vã ra ớn lạnh. Qua ánh trăng soi bên khung cửa, tôi thấy có một bóng người thấp thoáng đi ngoài chân cầu. Khoác vội vào người chiếc áo ấm. Tôi chạy vội xuống con dốc trơn trượt vì chợt nhớ ra, chiều nay anh bảo vệ lơ đãng chưa rào lại hàng chắn vùng nguy hiểm. Lỡ bước có thể xảy ra tai nạn chết người. Tôi băng qua góc chân cầu, nghe tiếng la của mình vang dội trong đêm vắng. Chiếc bóng quay lại. Thì ra là một cô gái. Đẹp. Mong manh. Dưói ánh trăng nhìn nàng trong suốt như một mảnh pha lê. Tôi đứng sững trong giây lát. Mùi hương lan lại thoang thoảng đâu đây cho tôi một cảm giác mênh mông, chập chờn khó hiểu. Lắc mạnh đầu. Tôi bực bội sẵng giọng: “Đêm tối cô đi ra đây làm gì? Trượt chân té xuống dưới chỉ có chết thôi!” . Cô gái nhìn tôi mỉm cười, giọng nói của nàng nhẹ như hơi thở: “Anh đừng lo, em đã trượt chân một lần rồi. Không bao giờ té nữa đâu.” Hừ! Lại gặp phải dân lý sự cùn, tôi gắt: “Đưa tay đây, tôi dắt lên.” Nắm bàn tay nàng lạnh buốt trong tay, nhẹ mênh mông mà tôi không dám nắm chặt chỉ sợ tan vỡ đi một cái gì quý giá. Cởi cái áo ấm đang mặc khoác lên vai cô gái, tôi làu bàu – lại như một bà mẹ chồng khó tính – “ Cô không chết vì đuối thì cũng chết vì lạnh thôi !”. Nàng nhìn tôi cười lấp lánh. Và đôi mắt sao u ẩn kỳ lạ!

Về nhà, tôi pha cho nàng một ly trà nóng còn cẩn thận thêm vào vài lát chanh xắt mỏng rồi cho mình một ly cà phê đậm đặc. Nhìn cô gái ngồi bên cửa sổ bé nhỏ hẳn trong cái áo khoác to xù tôi chợt bật cười. Nàng nheo mắt: “Trông em kỳ lạ lắm phải không?” Tôi thật thà: “ Ừ! Con gái đêm hôm khuya khoắt lang thang một mình không sợ ma à!” . Nàng khẽ lắc đầu: “Ngày trước em cũng sợ, bây giờ thì hết rồi!” Lại cái kiểu nói anh hùng rơm cùa mấy cô nàng có chút cá tính mà tôi vẫn thường gặp. “Thôi uống xong ly trà cho ấm người rồi tôi đưa về, kẻo ông bà cụ thấy mất bóng lại mắng cho.” Nàng lại mỉm cười nhìn tôi. Sao nàng hay mỉm cười thế nhỉ? Nụ cười làm xao cà lòng khiến tôi chợt bối rối.

Hai đứa đi xuống con dốc về phía vườn lan. Mảnh trăng sáng lấp lánh như vỡ ra dưới bước chân của nàng. Khi đi ngang qua chiếc cầu, nàng chỉ cho tôi mỏm đá lớn bên dòng sông: “ Ngày xưa em hay ngồi đây đợi trăng lên.” Tôi không nén được sự tò mò: “Ngồi một mình ?” Nàng lắc đầu buồn bã: “Với một người.” Tôi hiểu phần cuối của câu chuyện nên không hỏi thêm nữa. Đến cổng vườn lan, nàng ngước nhìn tôi xa vắng: “ Anh về đi, có thể mình sẽ không còn dịp gặp nhau .” Có một điều gì thôi thúc tôi nắm lấy tay nàng. Bàn tay vẫn lạnh như sương đêm. Chợt hoang mang ngây ngất. Nàng quay đi bước lẫn vào trong vườn lan. Biến mất như một chiếc bóng. Nhẹ nhàng. Trong suốt. Tôi giật mình chợt nhớ mình chưa hỏi tên nàng.

Sáng hôm sau, tôi tỉnh giấc vì ánh nắng chiếu thẳng vào mặt. Ly cà phê đen đậm đặc tối qua vẫn làm tôi ngủ vùi mê mệt. Ngoài kia, có vài con bướm lao xao trên giỏ lan treo bên cửa sổ. Trong nhà ngào ngạt hương lan, tất cả những búp non trong giỏ hoa đã hé nở. Cánh hoa vàng màu mật đẹp óng ánh trong suốt như cô gái tôi gặp đêm qua. Ở trên bàn ly cà phê tối qua tôi đã uống cạn. Còn ly trà chanh dành cho nàng vẫn còn đầy. Lạnh buốt.

Chọn bộ quần áo tươm tất nhất, khác hẳn với vẻ lèng phèng thưòng ngày. Tôi đi xuống vườn lan thăm nàng. Trời chợt âm u, có những đám mây kéo qua ngang chiếc cầu. Đen thẫm. Ẩm ướt. Kéo cao cổ áo che bớt hơi gió lạnh buốt. Chiếc áo dạ tôi đã khoác cho nàng đêm qua, sáng nay tôi cố ý mặc lại để còn được ngửi hương tóc nàng vương vất quanh tôi. Đẩy cánh cửa cổng rào cọt kẹt, hoen rỉ. Gặp lại người bõ già hôm trước. Lúng túng tôi hỏi thăm nàng. Ông cụ nhìn tôi lạ lùng buồn bã, rồi đi vào trong nhà. Lát sau ông trở ra trên tay cầm một tờ báo địa phương ngả màu ố vàng in hình một cô gái có cặp mắt sâu thăm thẳm: “ Có phải đây là người cậu găp tối qua không? Nó là cháu gái của già đó.”

Những hàng chữ trong trang báo chợt nhoè đi trước mắt tôi. Những hàng chữ nói về một cô gái mười tám tuổi, bị chết đuối dưới chân chiếc cầu làm dở dang một năm trước đây. Đó là chiếc cầu mà tôi vừa hoàn thành ngày hôm qua…

Nguyên Tú My

Read Full Post »

Mùa xuân bình yên

Tranh: Tô Ngọc Vân

Hai mươi tám, cả nhà về quê ăn tết. Mẹ chuẩn bị quà đem về toàn những thứ vừa to vừa nặng chất đầy dưới gầm xe. Miên chiếm chỗ ngay bên cửa sổ, ngồi bó gối thong dong ngắm cảnh bên đường mặc cho thằng em cao lều khều loay hoay mãi vẫn không tìm được chỗ đặt đôi chân dài thượt, rồi rên rỉ cả chặng đường đúng là chở củi về rừng.

Đến nơi thì trời đã sẩm tối. May mà bà cho người ra đón trước ở bến xe. Chiếc xe tải cũ kỹ như xe thồ rau, cứ đi qua cái ổ gà nào là cả người lẫn xe đều long lên sòng sọc. Thằng em lúc này lại tỉnh như sáo huyên thuyên bắt chuyện với người tài xế ở băng trước. Trời tối nên không nhìn rõ mặt lắm, dưới ánh sáng vàng ệch rọi vào từ ánh đèn pha phía trước gương mặt bị che khuất dưới vành mũ rộng chỉ lộ ra chiếc cằm vuông và hàm răng trắng khi anh ta cười lớn tiếng.

Đường nhà quê trời mưa phùn nhơm nhớp bùn đỏ đặc quánh. Miên rón rén trên đôi guốc cao sợ bị trượt, một tay vén quần một tay ôm túi bước vào sân. Bà đã đứng đợi ở cửa từ lúc nào, miệng cười móm mém suýt xoa thăm hỏi, mệt lắm không con? Miên rưng rưng ôm bà vào người cảm thấy bà bé nhỏ hẳn đi lọt thỏm trong vòng tay của mình. Mùi hương bồ kết thoang thoảng từ tóc bà lan ra làm Miên cảm thấy dễ chịu. Thằng em cậy thế mình là cháu đích tôn, xô ngay vào ông nịnh nọt, khen ông ngày càng đẹp lão. Vào nhà mọi người như khoẻ hẳn ra sau một chặng đường dài, đi lại nói cười ầm ĩ. Bà tất tả giục người nhà dọn cháo cho cả nhà ăn tối. Những miếng thịt gà vàng ươm rắc lá chanh xếp gọn gàng trong đĩa cạnh chén nước mắm gừng làm Miên đói nôn nao. Bà ngồi cạnh gắp đầy thịt vào chén Miên. Thím Ban ngắm Miên mãi rồi khen, con gái lớn tướng gả chồng được rồi đấy. Miên tủm tỉm cười thầm nghĩ, rõ khổ, con gái chứ có phải con gà con vịt gì đâu mà cứ mong nuôi lớn rồi đem gả, đem bán. May mà cánh đàn ông ngồi cả ở bàn ngoài nếu không chắc Miên ngượng chết được.

Nhà ông bà rất rộng, mái ngói âm dương nâu cổ nhìn ra sân gạch bát tràng khi mưa xuống lại ửng lên một màu đỏ thẫm. Trước sân ông trồng đủ loại cây cảnh, hoa trái. Vào mùa xuân cây bưởi ở góc sân ra rất nhiều trái ngọt. Khi bưởi chín ông hái xuống đem bôi vôi vào cuống quả rồi cất dành cho con cháu. Năm nào cũng vậy, sau tết trở về thành phố là bố cũng khiêng cả bao tải toàn bưởi nhà trồng đem biếu hàng xóm ai ăn cũng khen ngon. Giống bưởi ấy mà khéo giữ có thể để được đến hai, ba tháng. Biết ông quý cây bưởi nên khi chú Ban lấy vợ dựng nhà riêng ngay trên miếng đất bên cạnh mà ông chia cho, chú phải ngăn lối đi bằng tấm rào liếp lớn chắn ngang cây bưởi cho đến khi nhà xây xong mới tháo xuống. Hai nhà chỉ cách nhau có một bờ rào thưa trồng dong riềng ra hoa quanh năm đỏ chói. Đến mùa cây có củ, thím làm miến bằng củ dong rồi cuốn thành từng vắt lớn cho mẹ đem về thành phố. Mẹ vẫn khen miến thím làm ăn giòn không bị bở, chả bù cho miến chợ làm dối bỏ đầy hàn the. Ngày còn bé Miên vẫn hay chui qua bên ấy chơi trốn tìm với đứa em họ; đôi khi lần mò ra ao bắt chuồn chuồn, vớt hoa bèo hay khều những cọng rau nhút mọc lô nhô dưới nước. Có lần sơ sẩy thế nào lại rớt tòm xuống ao may có thằng bé hàng xóm nhìn thấy lội xuống vớt Miên lên. Thoát chết nhưng từ đấy Miên phải gọi nó bằng anh. Thật ra nó lớn hơn Miên đến vài tuổi nhưng Miên lại quen cái thói kiêu kỳ con gái thành phố, cứ câng câng xưng tên rồi nói trống không, chẳng bao giờ chịu gọi anh. Mùa hè năm sau trở về nghe bà bảo nhà hàng xóm ấy đã dọn đi nơi khác rồi bỗng nhiên Miên lại thấy buồn và chợt nhớ ra mình chưa biết tên nó là gì, vẫn chỉ là tiếng “anh” trống không như một ký ức tuổi thơ nhạt nhoà xưa cũ.

Ăn xong Miên bưng mâm đi ra sân ngồi rửa. Mọi người vẫn còn chuyện trò ồn ào ở trên nhà. Thằng em có vẻ hoà nhập rất nhanh với nhóm đàn ông trên ấy. Thật ra chỉ toàn người lớn, có ông, có bố, chú Ban, hai bác hàng xóm là bạn cũ của bố và anh lái xe ban chiều thế mà cũng ồn ào nổ chợ. Miên nghe loáng thoáng có ai nhắc đến tên mình.

Tay dầm trong nước nãy giờ cũng đã thấy tê lạnh. Miên xuýt xoa ủ tay vào người, dợm đứng lên mang rổ bát vào nhà thì có tiếng nói cất lên:

– Miên để tôi đem vào cho. Đi cẩn thận kẻo trơn.

Chút nữa thì Miên va cả người vào cái bóng sừng sững của anh lái xe đứng chắn ngang cửa bếp. Miên lí nhí, cảm ơn anh rồi ra bếp pha nước ấm rửa tay. Bà ở trên nhà đi xuống, bảo:

– Hai anh em đã nhận ra được nhau chưa? Miên còn nhớ anh không, chào anh Quân đi chứ.

Miên ngớ ra nhìn người thanh niên đứng trước mặt mình, đôi mắt sâu đen chăm chú nhìn Miên nửa tinh nghịch, nửa vui mừng. Miên nói như hụt hơi:

– Chào… anh!

Đêm tháng Chạp chợt nóng bừng.

***

Hôm sau Miên tỉnh giấc vì tiếng gà gáy sáng. Con gà trống đứng trên bồ rơm cạnh cửa sổ gáy ò ó o inh ỏi. Nhìn qua giường bên cạnh bà và mẹ đã dậy hết cả rồi, có tiếng lạch cạch nồi niêu tiếng người nói râm ram từ nhà bếp vọng ra. Miên khoác chiếc áo ấm vào người đi ra nhà bếp. Chùm khánh đất treo trên cây nêu đầu ngõ chạm gió vang lên âm thanh leng keng trong trẻo trong nắng sớm đầu xuân. Ở chính giữa bếp trải hai tấm chiếu lớn bầy đầy xô, chậu, mâm, rổ rá để chuẩn bị gói bánh chưng. Trên tấm phản gỗ từng chồng lá dong rửa sạch xếp ngay ngắn đặt trên là bó lạt lớn màu trắng xanh mà ông đã chẻ sẵn từ mấy ngày trước. Nói đến việc chẻ lạt, róc lá thì không ai có thể khéo bằng ông. Từ hai mươi ba tết bà đã lo đi chợ chọn nứa. Nứa mua về cạo lớp vỏ xanh bên ngoài rồi dùng dao lớn tách ống nứa ra thành nhiều thanh, sau đó dùng dao nhỏ chẻ thành từng mảnh lạt mòng rồi đem phơi nắng cho mềm dành để gói bánh. Trong bếp mẹ đang hấp đậu bằng cái chõ thật to, hơi bốc lên nghi ngút. Được mớ nào mẹ đổ ngay vào chiếc cối đá cho bố giã nhuyễn ra rồi nắm lại thành từng nắm nhỏ đặt vào mâm. Nơi sàn nước thím Ban đang xóc muối từng rổ nếp trắng tinh đã được ngâm từ hôm qua. Ờ một góc sân chú loay hoay xếp những viên gạch đá ong lớn chuẩn bị bếp để nấu bánh, bên cạnh là một cái nồi to cao cả thước. Năm nào cũng thế bà gói cả trăm cái bánh chưng, phần để ăn ngày tết, phần biếu họ hàng, phần hàng xóm gửi nhờ. Bà kỹ tính chọn lựa từng yến nếp ngon, ngâm đỗ, ngâm gạo vừa đúng, lau rửa lá sạch nên bánh chưng để đến mồng mười vẫn không bị mốc. Nhìn thấy Miên đi ra bà quay lại cười, ánh lửa từ bếp tỏa lên gương mặt sáng niềm vui ấm áp:

– Miên ăn sáng xong rồi đi theo anh ra chợ, đến hàng bà Tam lấy thịt về cho bà ướp sớm nhé.

Miên dạ khẽ rồi đi ra bể múc nước mưa rửa mặt. Tiếng gầu chạm vào nước nghe trong veo như bầu không khí buổi sáng ngày giáp tết mát dịu. Bà cẩn thận đã đặt sẵn một ấm nước nóng trên cái bếp than cạnh đó để pha nước rửa mặt. Nước ấm trong lành thấm vào làn da thanh xuân thiếu nữ khiến Miên thấy khoan khoái dễ chịu. Cô đi vào nhà khoác thêm tấm khăn quàng che gió, xách chiếc làn nhựa rồi đi ra sân. Anh đã đợi sẵn cạnh chiếc xe máy cũng cũ kĩ chẳng kém gì chiếc xe tải tối hôm qua. Chỉ khác sáng nay anh không đội mũ và nhìn Miên cười rất tươi. Và thật lạ, nụ cười ấy luôn làm Miên bối rối.

Tranh: LaVuong

Đường ra chợ lất phất mưa phùn bay, giọt mưa phơn phớt qua vai áo anh đọng lại thành từng đốm nhỏ li ti như bụi. Anh hỏi, Miên có lạnh không? Trời mưa phùn tháng Chạp, tiết Đại Hàn; còn anh phóng xe ngược gió xồng xộc trên đường đê như điên thế này làm sao mà không lạnh. Nghĩ thế, nhưng Miên vẫn ngoan ngoãn trả lời: Dạ, không! Anh không nói gì nữa nhưng qua kính chiếu hậu Miên thấy anh cười.

Phiên chợ ngày hăm chín ở nhà quê được xem như là phiên chợ cuối cùng của một năm. Người chu đáo đã chuẩn bị mua sắm dần từ đầu tháng Chạp. Thức nào dành được như măng, miến, đỗ… là họ đã lo sắm sửa trước rồi. Cứ thế, dần đến phiên chợ hăm sáu là mọi thứ phải lo đầy đủ trừ những thức ăn tươi như thịt cá, giò chả, rau đậu… mới đợi đến ngày hôm nay. Vậy mà người đi chợ, mua bán vẫn đông như nêm cối. Anh dắt xe len theo Miên đến hàng bà Tam bán thịt. Mỗi lần về quê Miên hay theo bà đi chợ nên nhận ngay ra được giọng bà oang oang giữa đám đông người đang bu quanh lao nhao chọn thịt. Một tay bà vần tảng thịt lớn trên thớt, tay kia cầm con dao to bản, miệng nói tay cắt xẻo nhát nào ra nhát đó thật gọn gàng. Nhìn thấy Miên, bà vội rút một gói lớn ở dưới gầm sạp dúi vào người cô, ghé tai thì thào:

– Phần thịt ngon nhất bác để dành cho bà đấy. Cháu về ngay đi không khéo các bà ở đây trông thấy lại tị nạnh. Còn tiền ngày mai bác cho người qua lấy!

Miên ôm gói thịt nặng, đeo thêm mấy cây giò chen ra ngoài vừa vui, lại vừa cảm thấy mình giống như đang phạm tội dành mất phần ngon của người khác. Anh giúp Miên bỏ gói thịt vào giỏ cột phía sau xe, treo mấy cây giò vào tay lái rồi lại hì hục đẩy xe ngược dòng người đi ra phía cổng chợ. Miên đủng đỉnh tay không theo sau ngắm cảnh chợ quê mua bán tấp nập. Ánh mặt trời buổi sáng tỏa sức ấm lan dần trong nắng sớm rực rỡ trên các chậu cúc vàng bầy trước cổng. Anh dừng lại bên hàng hoa cúc. Người bán hàng đon đả mời chào. Ở quê, nhà ai cũng trồng được dăm bẩy cây cảnh trong sân nên ít người mua hoa chưng ngày tết. Hàng hoa cũng không có nhiều toàn là cúc, vạn thọ và vài cành đào còn đầy nụ. Miên giúp anh lựa hai chậu cúc đại đoá, hoa nở to bằng miệng chén trông thật đẹp. Đến lúc mua xong cả hai mới ngẩn người ra vì không biết sẽ chở về bằng cách nào. Ông bán hàng lăng xăng giúp anh cột một chậu hoa vào đằng sau, một chậu ở phía trước. Miên đứng nhìn khoảng trống còn lại của chiếc xe thầm nghĩ, không biết mình và cái giỏ nặng này sẽ được đặt vào đâu đây. Miên đợi anh nổ máy xe rồi mới leo lên ngồi. Ông bán hàng đặt cái giỏ vào người Miên và bảo: Một tay cô ôm cái giỏ này, tay kia ôm chặt lấy cậu ấy là được thôi. Trời lạnh ngồi chật càng ấm. Cứ thế nhé! Miên đỏ mặt nhưng không còn cách nào khác. Suốt cả đường về Miên không dám nhìn lén anh qua gương nữa mà ngồi nhẩm đếm được đúng mười tám cái ổ gà.

Về đến nhà thằng em đang đứng khuỳnh chân khuỳnh tay tập thể dục huỳnh huỵch ngay giữa sân. Thấy xe vào nó oang oang cái giọng vỡ tiếng:

– Xe hoa chở cô dâu về rồi kìa.

Mấy đứa em họ chạy loanh quanh gần đó cũng reo ầm lên, cô dâu chú rể đội rế trên đầu. Miên đưa cái giỏ cho thằng em cầm, bước xuống xe, vờ đạp vào chân nó một cái thật mạnh rồi chạy thẳng vào trong bếp ngồi hong tay bên bếp lửa. Tự dưng Miên thấy lòng mình dâng lên một nỗi niềm khó tả. Một nỗi dịu dàng thiếu nữ thật nhẹ nhàng nhưng rực rỡ như sắc hoa vàng óng của chậu cúc ngoài sân kia.

***

Chậu cúc được đặt ở trước hiên nhà. Giữa tháng chạp buốt giá hai chậu cúc vàng tươi viên mãn tỏa ra ánh sáng tươi vui nhuộm vàng khoảng sân trước rộn ràng cùng nắng. Ông chống gậy đi ra đứng ngắm, gật gù khen:

– Đẹp đấy. Hoa nở đều, những búp hoa này đến mồng một là nở rộ thôi. Ai khéo chọn thế?

Anh đứng lùi lại, nghiêng đầu ngắm:

– Miên chọn đấy ông ạ! Chợ hoa giáp tết chẳng còn nhiều thế mà lại chọn được hai chậu hoa tươi, búp đầy cành. Người ta bọc hoa kỹ lắm. Con chở từ chợ Cầu về mà không gẫy cành nào.

– Ừ, người buôn hoa họ tinh tế lắm cháu ạ. Có sống với nghề mới biết họ yêu thương cây cỏ như thế nào. Phường “ăn xổi ở thì” không sống bền với nghề này được đâu.

Ở trong bếp, thím Ban khẽ thì thầm với mẹ nhưng có vẻ lại muốn Miên nghe thấy:

– Hai đứa này có vẻ hợp nhau nhỉ. Thằng bé ngoan và chịu khó lắm chị ạ! Hai mươi hai tuổi rồi, học xong năm nay là đi du học nước ngoài đấy. Không biết lưu luyến gì mà nhất định về đây ăn tết trước khi đi xa.

Mẹ ầm ừ, “Thế à” mắt khẽ liếc nhìn Miên thăm dò. Mẹ vẫn bảo Miên cứng đầu, khó hiểu và đầy phức tạp. Đàn ông phức tạp thì làm khổ người khác, làm thân đàn bà lại phức tạp chỉ làm khổ chính mình thôi con ạ. Nghe mẹ nói Miên chỉ cười không cãi. Cãi làm sao được khi chính Miên đôi khi cũng chẳng hiểu được mình, đôi khi cũng thấy mình xa lạ hẳn với những đứa con gái cùng lứa tuổi. Mắt Miên thấp thoáng nét thơ ngây, trong veo như nắng nhưng nhìn ai cứ xuyên thấu tâm can người đối diện. Những đứa con trai đối diện với Miên đôi khi phải lảng tránh đôi mắt nhìn rất thẳng và rất sâu ấy. Vậy mà Miên lại ngại ngùng trước đôi mắt của anh, đôi mắt đen sẫm đã có một lần cúi xuống bên Miên rất gần, rất gần… chỉ một lần nhưng không bao giờ quên được. Bờ ao xưa… con đê già… tuổi thơ trong vắt…


Tranh: LaVuong

Mùa hè năm ấy mẹ gửi Miên về quê ở với ông bà cả tháng. Đó là những ngày tháng tươi đẹp nhất của quãng đời niên thiếu tự do rong chơi cùng hương đồng cỏ nội. Làng quê xanh bóng tre rì rào trong gió, nắng len lỏi qua hàng cây chạy dọc theo triền đê có con sông sâu miệt mài rong ruỗi ngút tận chân trời. Cả ngày Miên mê mẩn chạy đuổi theo những cánh chuồn kim xanh biếc, chuồn ớt đỏ thẫm bay lượn bên bờ ao, trên bụi duối lá nhám xanh rì. Vào mùa hè, lũ trẻ hàng xóm hay tụ tập trước hàng duối nhà ông hái quả chín vàng ngọt ngào ăn ngon lành. Năm ấy Miên vừa tám tuổi, tóc tém ngắn bướng bỉnh và nghịch như con trai. Miên lén lấy nhựa mít bôi vào những quả duối chín, ăn xong tay chúng dính đầy nhựa bôi vào tóc vào áo nhau rồi quay ra cãi nhau ỏm tỏi. Miên ngồi vắt chân sau bờ rào gặm ổi cười thích thú.

Nhưng trò đùa tinh nghịch ấy không qua mắt được một thằng bé gần nhà. Ngày hôm sau đợi ông ngủ trưa Miên leo lên giàn bếp lấy ống đựng nhựa mít của ông mon men ra bờ rào tiếp tục trò đùa tinh nghịch của mình. Nó trốn sẵn ở đâu đó, đợi Miên vừa quệt nhựa vào quả duối đầu tiên thì nhảy ra nắm chặt lấy tay Miên, la lên:

– Bắt được quả tang rồi nhé, nhóc con!

Miên đâu có ngán giật mạnh tay ra trừng mắt, quát lại:

– Duối nhà người ta, ai bảo mấy người đi ăn trộm?

Thằng bé đứng lùi lại khoanh tay trước ngực nhìn Miên nói giọng kẻ cả:

– Ốc tiêu bé con chỉ bằng cái nắm tay người ta mà hùng hổ thế. Ở đây chẳng có cái gì là của riêng cả. Không ăn thì chim cũng đến ăn hết thôi. Con gái dữ dằn thế thì ai dám chơi hả, bà cô?

– Không chơi thì đây cũng không thèm. Đừng có đến gần người ta!

Miên nhấm nhẳng trả lời. Thầm nghĩ, cái mặt không ưa được. Có tiếng ông gọi ở trong nhà, Miên vội chạy vào sau khi ném cho nó một cái nhìn đầy sát khí.

Chẳng biết vì lũ trẻ sợ nhựa mít hay vì chúng đã tìm được một thứ trái cây khác ngon lành hơn, đám con nít không còn tụ tập trước nhà hái duối ăn nữa. Miên tha thẩn chơi chán lại lôi những quyển sách cũ ố vàng mốc meo của ông xuống đọc. Bộ Tam Quốc Chí tám quyển dầy cộp đã đọc xong cả tháng nay, Miên nằm vắt chân nhìn qua song cửa nghe ông ngâm thơ Đường giữa trưa vắng, chẳng hiểu gì nhưng bỗng nhớ nhà rười rượi.

Thùy gia ngọc địch ám phi thanh
Tân nhập xuân phong mãn lạc thành
Thử dạ khúc trung văn chiết liễu
Hà nhân bất khởi cố viên tình
(thơ Lý Bạch)

Nằm xoay ngang xoay dọc chán, Miên đợi ông ngủ yên rồi rón rén đi ra vườn. Góc vườn ban trưa yên ả chỉ có tiếng gió đưa qua lũy tre đầu ngõ kêu xào xạc. Phía bờ ao con gà mái dẫn đàn con đi kiếm ăn vừa đi vừa kêu “túc … túc…” Miên lượm nhánh cây khô ngồi đào trùng dưới bóng cây ổi cành rậm rạp xoè tán. Cảnh quê ngọt ngào quá làm Miên nguôi nỗi nhớ nhà. Đưa mắt qua phía bờ ao Miên thấy từng chùm hoa bèo tây nằm lửng lơ trên mặt nước nổi lên một màu tím ngắt giữa chùm lá xanh, bèo tấm bao quanh. Ở thành phố chưa bao giờ Miên nhìn thấy loại hoa này. Màu tím của nó sao ngọt ngào quyến rũ quá. Miên lượm một nhánh cây dài đi dần ra ven bờ ao tìm cách khều chùm hoa trôi dập dềnh dưới nước. Nhánh cây mỏng không đủ sức kéo chùm hoa đầy rễ bám chặt phía dưới. Miên bước gần ra nữa, bám tay vịn lấy một nhánh ổi đâm ngang loà xoà gần mặt nước. Nắng ban trưa xuyên qua kẽ lá lấp lánh trên mặt nước, Miên thấy cả bóng mình phản chiếu trong nước thật gần, thật gần… soi rõ… một khuôn mặt con trai, tóc tai bờm xờm đang trợn mắt, nhe răng đu đưa trên cây ổi sau lưng Miên.

Rắc…” cành ổi gẫy ngang, Miên té nhào chới với dưới nước, nước trào vào miệng vào mũi. Trong cơn hoảng loạn Miên thấy có người lao xuống kẹp ngang người lôi Miên lên bờ. Kết quả là sau trưa hôm đó Miên bị ông cấm đi ra ao một mình.

***

Tất bật cả buồi sáng rồi cũng gói xong trăm cái bánh chưng. Miên không biết làm gì chỉ lăng xăng phụ giúp việc vặt ở bên ngoài. Việc gói bánh là của đàn ông trong nhà do bố và chú làm rồi. Anh đứng nhìn ngắm một lát rồi cũng xăn tay áo vào tập gói bánh. Cái bánh đầu tiên xộc xệch trông thật tội nghiệp. Anh thản nhiên lấy sợi lạt mới đặt chéo góc đánh dấu cái bánh, bảo dành riêng cho Miên.

Tối hôm đó thật vui cả nhà quây quần thức khuya chờ bánh chín. Mấy đứa em họ trài chiếu xuống đất rủ mở sòng bầu cua cá cọp. Miên và anh bị đẩy vào một phe, anh làm chủ sòng Miên ngồi chia tiền. Tụi nhóc được một phen la hét ầm ĩ vì nhà cái thua đậm đến trắng tay. Thằng em ngồi một bên bá cổ anh cười ngất, hỏi ấm ớ: “Đen bạc đỏ tình phải không Miên?” Anh cười cười gật gù: “Không biết được để tối mai Miên dẫn anh đi chùa hái lộc, gieo thử giùm anh một quẻ tình duyên xem sao nhé?”

Chùa làng đêm ba mươi Tết đông nghịt người đi dâng lễ. Cửa chánh điện mở rộng khói hương mù mịt. Anh kéo Miên đi vòng ra cửa hậu bên hông chùa, hai đứa len vào đặt lễ lên bàn Tam bảo, thắp được nén nhang rồi phải lui ra ngay nhường cho người khác vào. Nét mặt ai cũng lộ nét hân hoan, rạng ngời chờ đón một năm mới an lành. Bên hàng xin xâm, gieo quẻ đa số là những đôi thanh niên nam nữ đi bên nhau ân cần ríu rít. Đứng xếp hàng mãi mới đến lượt vào. Anh cầm ống sâm lên lắc mạnh rớt ra cả bó. Miên quay sang bảo, vía nặng quá, phải thành khẩn cầu nguyện thánh mới ứng. Anh phì cười chợt nắm lấy tay Miên kéo đi ra ngoài: Không phải cầu xin gì nữa đâu, anh đã tìm được điều mình muốn rồi.

Đi ngang qua gốc đào già Miên ngửi thấy mùi hoa thơm ngan ngát lan trong đêm xuân. Mùa xuân miền quê có cái không khí nhẹ nhàng chan hoà cùng với cây cỏ đất trời thật trong lành. Anh chọn một nhánh lộc non ở trên cao đặt vào tay Miên. Hai đứa ngồi xuống bệ đá bên hồ sen nhìn ra phía cổng chùa có những đứa trẻ đang chơi đốt pháo tép đì đạch trước sân, nói vu vơ về những kỷ niệm ngày xưa. Những kỷ niệm vừa cảm động, vừa buồn cười làm Miên nao lòng. Anh nhặt một nhánh cây khô vẽ xuống đất những vòng tròn vô nghĩa, hỏi:

– Miên có biết vì sao anh trở về quê ăn tết năm nay không?

– Miên không biết, vì sao?

– Vì Miên!

Bất ngờ vì câu trả lời của anh, Miên lúng túng im lặng.

– Anh rời làng quê này đúng mười năm. Mười năm bỏ quê lên phố nhưng lúc nào trong tâm hồn vẫn lưu luyến hình ảnh của thôn xóm ngày xưa. Và kỳ lạ, trong chuỗi ký ức đó luôn có hình ảnh của Miên khi còn là một cô bé tóc ngắn, ngang ngược và bướng bỉnh. Anh biết Miên về quê hàng năm vào dịp tết nên anh…

Anh bỗng ngập ngừng, cầm tay Miên xiết nhẹ:

– Sau tết anh sẽ đi xa hai năm. Miên có cho anh một cơ hội hay không?

Có tiếng chuông chùa vang lên gióng giả giữa đêm trừ tịch báo hiệu cho một năm mới bắt đầu. Bầu không khí chung quanh chợt vắng lặng yên ả chỉ còn tiếng chuông ngân vang trong suốt len lỏi vào từng tâm hồn, nhịp thở của mọi người. Miên ngước lên nhìn vào đôi mắt anh sáng lấp lánh, nghĩ đến mùa xuân của tuổi mười tám đang đến rực rỡ như màu hoa cúc vàng trên sân nhà. Một mùa xuân có anh, có Miên, có một mái ấm gia đình đoàn tụ xum vầy cùng đón một mùa xuân bình yên trên quê hương. Cành lộc non trong tay Miên như vừa hé nở một búp xuân thì thơm ngát

Xa xa tiếng pháo đón giao thừa vang lên rộn rã.


Nguyên Tú My

Mùa xuân đầu tiên

Nhạc sĩ: Văn Cao – Ca sĩ: Thanh Thúy

http://www.youtube.com/watch?v=c8FqqZvCEqI

Read Full Post »

Photo: Agah Permadi

Xóm Cỏ nằm ở ven sông, dưới chân cầu Đá dẫn vào thành phố. Dọc theo bên bờ cỏ kết thành từng mảng thưa thớt lẫn vào với đám bùn đen lình bình rác rưởi. Từ trên cầu nhìn xuống những mái nhà nhỏ xíu nằm nối đuôi nhau bò ngúc ngoắc như một con rắn đang trườn bên triền sông. Lúc đó xóm Cỏ trông cũng nên thơ lắm. Nhất là vào mùa mưa, con nước dâng lên mấp mé bờ, từng đám lục bình trôi trên sông tím ngăn ngắt. Ban ngày tụi nhỏ trong xóm rủ nhau đi đặt trúm rình vớt tôm tép, cá mú theo mùa gió chướng trôi vào từ biển. Tối đến chúng dắt nhau len lỏi vào các vạt đồng trũng ở cuối sông soi nhái đem về bán cho mấy quán nhậu ở ngoài lộ.

Con nít ở đây dang nắng lội sình cả ngày nên đứa nào đứa nấy đen thui lui như cục sình ngoài bãi. Vậy mà tụi nó vui lắm, hồn nhiên như cây cỏ mây trời. Ngôi đình cuối xóm, dưới gốc cây điệp vàng mỗi khi có cơn gió đưa qua từng cánh hoa vàng rơi tả tơi đầy đất là nơi tụ tập của bọn trẻ những khi rảnh rỗi.

Nhà thằng Lượm cất bên hông ngôi đình cũ ấy. Ngoại nó làm ông Từ trông nom ngôi đình cho cả xóm. Mỗi sáng khi nó còn đang nằm nướng trong giường đã nghe tiếng chổi của ngoại quét lá quèn quẹt trên sân rồi. Cửa chánh điện luôn đóng kín, chỉ những ngày lễ tết ngoại mới mở ra đón khách. Cánh cửa nhỏ bên hông nhìn ra ngoài vườn thì luôn bỏ ngõ. Thỉnh thoảng có vài người ghé qua thắp nén nhang, cúng bó huệ, nải chuối. Ngoại thường sai Lượm đi qua lau dọn bàn đèn thờ phượng ở bên đó. Trong đền thờ ngọn đèn trái ớt tú mù đặt trên bệ tỏa ra luồng ánh sáng leo lét chập chờn trước khuôn mặt của những pho tượng xưa luôn làm cho Lượm một cảm giác ớn lạnh sau gáy. Tụi nhỏ chơi giỡn ầm ầm ngoài sân nhưng không một đứa nào dám đặt chân một mình vào trong ngôi đình ấy. Vào những đêm trăng sáng khi đã hết chuyện để tán dóc, chúng thì thào kể cho nhau nghe những câu chuyện hoang đường bí ẩn lượm lặt được ở đâu đó. Thằng nhỏ mù bán vé xố là một kho đầy những chuyện ma quỷ rùng rợn lôi cuốn tụi nhỏ ngồi sát rạt bên nhau mà nuốt từng lời, từng chữ nó kể. Có đứa thắc mắc rất vô duyên: “Tại sao mày đui mà biết nhiều chuyện quá vậy?” Thằng nhỏ lơ mơ cái mặt ngước lên trời trả lời tỉnh rụi: “Tao đui chớ tao có điếc đâu mà hổng biết!”

Ngày trước nhờ con chó vàng trung thành dẫn nó đi lang thang đây đó bán vé số kiếm sống. Từ ngày con chó dẫn đường của nó bị bắt cắp, nó đau xót như bị mất đi đôi mắt thêm một lần nữa. Khi ngoại tìm được nó nằm co quắp trên chiếc ghế đá ngoài công viên, trên tay còn nắm chặt sợi dây dắt chó loẹt quẹt trên nền đất. Ngoại dẫn nó về nhà nuôi nấng cho làm anh em kết nghĩa với Lượm. Cùng cảnh mồ côi Lượm thương nó như em ruột. Ngoại nhờ cô giáo xin cho nó vào lớp học tình thương của người mù. Ở đó nó được học chữ, dạy nghề thắt võng, đan giỏ. Cô giáo khen nó sáng dạ lắm làm Lượm cũng hãnh diện lây. Đã vậy nó còn có tài ca vọng cổ nghe mùi đứt ruột. Bao nhiêu tuồng tích trên đài phát thanh nó chỉ cần nghe qua vài lần là thuộc vanh vách. Tối nào bị cúp điện bà con bắc ghế ra sân ngồi hóng gió nghe nó ca tuồng Lục Vân Tiên khóc mẹ đến mù mắt là có người cũng sụt sùi, hỉ mũi rột rạt theo nó. Cái giọng xuống “xề” nghe sao cay đắng quá sức như có một nỗi xót xa nào đó không định được hình, được màu chỉ là một khoảng tối đen u ám, rưng rức nhớ thương. Ca riết mà chết luôn tên, bà Tám cháo vịt múc một tô cháo nóng hổi dành cho thằng Lục Vân Tiên ăn bồi dưỡng. Chú Năm thợ mộc xách cây đờn cò dính bụi treo mốc trên tường xuống lau chùi sạch sẽ để dạo lửng tửng tám câu vọng cổ cùng với Lục Vân Tiên. Xóm Cỏ từ ngày có nó chợt văn nghệ, văn gừng vui hơn trước.

Cứ tưởng cái xóm nhỏ rồi cứ thế mà êm ả trôi. Đến gần ngày giáp Tết trong xóm xảy ra chuyện động trời làm nhốn nháo cả người lớn lẫn con nít. Trước hết là chuyện con vịt luộc của bà Tám cháo vịt không cánh mà bay. Bả bắc ghế ra trước cửa nhà ngồi chửi đến ba đời đứa nào dám chôm con vịt mới luộc của bà. Lúc đầu cả đám con nít nhốn nháo bu lại nghe bả mở máy y như được coi hát tuồng “Vợ thằng Đậu” có cô diễn viên gì đẹp đẹp, cái miệng leo lẻo chửi bài mất gà. Dần dần tụi nhỏ văng hết vì bả bắt đầu điểm mặt từng đứa rắn mắt trong xóm mà nói bóng gió xa xôi. Liên tiếp vài ngày sau đó, có nhà bỗng mất ổ bánh mì thịt, có nhà bị rinh đi cả dĩa cá nục mới chiên. Ngay cả đồ lễ cúng trên bệ thờ của ngôi đình nó cũng không tha! Tụinhỏ trong xóm ấm ức lắm. Tuy chúng có đôi lúc nghịch ngợm rắn mắt, bứt cái bông bụp nhà này, chọt chùm mận chín nhà kia nhưng để làm chuyện động trời kia thì không đứa nào dám rớ.

Thằng Còi đấm bình bịch bộ ngực lép kẹp của nó cằn nhằn:

– Thiệt là mắc cỡ quá! Bả nghĩ tao chôm con vịt để trả thù chuyện hôm trước tao lỡ đá quả banh vô nồi cháo vịt của bả. Hôm đó tao bị má tao uýnh tét mông rồi, đứa nào hông tin tao cho coi nè!

Dĩ nhiên chắng có đứa nào muốn coi cái mông xẹp lép như cặp bánh tráng Hốc Môn của thằng Còi nhưng chúng bàn tán xôn xao ghê lắm về chuyện mất trộm. Đứa này vẽ ra một nhân vật hảo hán như các vị anh hùng Lương Sơn Bạc cần mượn đỡ con vịt luộc để giúp đỡ kẻ khốn cùng. Đứa kia dẩu mỏ cãi liền, Lương Sơn Bạc cái mốc xì, tối qua tao nằm sát cửa sổ nghe tiếng chân ai rột rạt sau hè, có cái bóng đen thùi lùi chớp qua cái rột. Dựng tóc gáy! Mấy đứa con gái rú lên: “Ma… ma…” ngồi bám dính lại với nhau.

Đề tài hấp dẫn đã được mở ra. Chúng châu đầu lại thay phiên nhau kể những câu chuyện ma rùng rợn nhất. Thằng Lượm khều thằng Còi ra góc đình bàn bạc:

– Tao với mày âm thầm điều tra chuyện này. Đừng nói cho đứa nào nghe, nhất là mấy cái miệng tà la của tụi con gái. Lộ tẩy hết! Chuyện đại sự chớ hỗng chơi đâu.

Thằng Còi gật gù:

– Ừa, mất mặt bầu cua quá! Chuyện này đổ bể tụi xóm nhà gạch ngoài phố nó cười cho thúi đầu nghen.

Xóm nhà gạch là dân sống ngoài phố. Lãnh thổ mỗi xóm được phân định từ chiếc cầu Đá ngoài lộ. Con nít xóm nhà gạch không có sân nên cứ phải ôm banh đi đá nhờ sân khác. Mỗi lần tụi nó muốn vào miếng đất trống ven sông để dợt banh là phải xin phép xóm nhà lá bên này. Tụi nhỏ không ưa nhau dù rằng vẫn đụng mặt hàng ngày trong sân trường. Xóm nhà gạch tiền bạc rủng rỉnh nên coi thuờng dân nhà lá. Tụi nó chỉ gườm mặt thằng Lượm vì nó to lớn nhất bọn và luôn được xếp hạng giỏi trong trường. Thủ lãnh của xóm nhà gạch là thằng Hán, nhà nó có xe bán xá xíu ngoài đầu ngõ. Được tẩm bổ bằng heo quay, phá lấu hàng ngày nên trông nó núng nính như một cái lu biết đi. Chiều chiều Lượm hay ra phụ ngoại sửa xe ngoài lộ thấy nó vừa mài dao, vừa bốc phá lấu cho vào miệng nhai nhồm nhoàm.

Thằng Còi thì ghét thằng Hán ra mặt. Mỗi lần hai đội banh đụng nhau trên sân cỏ, thằng Còi đá trung phong thì thằng Hán đứng bên ngoài nháy thằng tiền vệ to như con trâu mộng đốn giò nó. Mối hận thằng Còi quăng gói heo quay vào mặt không chịu về đầu quân cho xóm nhà gạch vẫn còn âm ỉ đến giờ. Nó chỉ chờ cơ hội để mua chuộc lại “đôi chân vàng” của xóm nhà lá. Không biết đứa nào đã nội ứng cho thằng Hán về chuyện mất trộm mấy ngày nay. Buổi sáng, thằng Hán chặn đường thằng Còi chìa cái bánh bao to tướng nhăn nhở làm thân:

– Ê, Còi! Ăn sáng chưa? Cho mày cái bánh bao nè.

Thằng Còi ngửi mùi bánh thơm phức cũng thèm lắm nhưng nó biết tỏng mưu đồ của thằng Hán rồi nên gạt ngang bước qua. Thằng Hán đi theo sau lải nhải:

– Tao biết hết chuyện rồi. Tụi nó nghi mày ăn cắp con vịt luộc của bà Tám. Mày về đá cho đội của tao bảo đảm có vịt ăn mỗi ngày. Thằng Lượm là thằng…

Nó chưa dứt lời, thằng Còi quay lại lấy hết sức bình sinh đá cho một cú trời giáng vào ống chân thằng Hán:

– Muốn đá thì ông đá cho này!

Thế là hai thằng lăn xả vào nhau đấm đá túi bụi. Thằng Hán chơi trò lấy thịt đè người, nó vật thằng Còi ra đất, đầu gối tì lên ngực, hai tay chặn lên cổ thằng Còi hét lên:

– Mày đầu hàng chưa?

Đang say men chiến thắng bỗng có ai nắm cổ áo nó kéo ra khỏi người thằng Còi. Quay lại, thì ra là thằng Lượm đang gườm gườm đôi mắt nhìn nó. Thằng Hán lùi lại thủ thế. Thằng Lượm cúi xuống kéo thằng Còi đứng lên, phủi bụi đất lấm lem dính đầy trên quần áo bạn mình rồi nói với thằng Hán:

– Mày đừng nhiều chuyện. Chùa nhà ai người đó giữ. Lần này tao cảnh cáo, lần sau đừng trách tao nghe.

Nhin cái mặt lầm lì của nó, thằng Hán cũng ngán nhưng ráng gỡ gạc một câu cho hả tức:

– Ừa, tụi bay có giỏi thì tìm cho ra thằng nào ăn trộm đi. Nghèo tổ cha mà còn bày đặt!

Vừa dứt lời câu cuối là nó co giò chạy lạch bạch, cái mông núng nính tưng lên tưng xuống ì ạch loạch quạch phía sau làm đám con nít đứng coi cười rần rần.

Mấy ngày sau đó, hai thằng nhỏ cứ thập thò với nhau rì rầm chuyện gì hông ai biết. Thỉnh thoảng lại gặp thằng Còi khoác cái aó mưa dài lượt thượt của ba nó thêm cặp kiếng đen đi lù đù qua lại trong xóm, ngó ngang ngó dọc ra điều nghiêm trọng lắm. Còn thằng Lượm cứ tối đến chờ ngoại đi ngủ, nó ôm bịch vôi trắng đi rải quanh ngôi đình để lấy dấu chân thằng ăn trộm. Cái mưu kế tưởng rất thông minh này cũng không xong. Hôm nào trời khô, gió thổi bay đi hết mớ vôi mỏng dính rắc dưới đất đi đâu mất. Có đêm trời mưa xuống, sáng ra khi quét sân ngoại cằn nhằn, đứa nào rắn mắt đổ vôi ra dính tèm lem đầy sân vậy nè.

Thua keo này tụi nó bày keo khác. Hai thằng rủ nhau đi xin mấy cái ống lon sữa bò, mấy cái nắp chai cô ca, xá xị bằng thiếc rồi đập dẹp ra. Chỉ cần thêm hai cây que cà rem cắm ở hai bên cái lon, cột thung lại là chúng được một bộ máy báo động vô cùng tinh vi rồi. Nhưng dính vô cái nghề thám tử cũng không dễ ăn chút nào. Cứ tưởng tối đến trước khi đi ngủ chỉ cần đi một vòng quanh sân đình, cột chỉ nối hết mấy lon báo động, rồi chờ thằng ăn trộm vấp vào dây bẫy, miếng thiếc tuột ra đập vào cái lon kêu lên là nhảy ra chộp cổ ngay được. Tên đạo chích này cũng tinh ranh ghê lắm. Nó khéo léo không để bị mắc vào dây bẫy cứ y như nó có cặp mắt quang tuyến nhìn xuyên qua được bóng tối vậy đó.

Ì ạch mãi rồi cũng đến ngày ba mươi Tết mà vụ án “Xóm Cỏ” vẫn chưa tìm ra được manh mối. Tối đến có nhà còn cẩn thận đem mấy chậu bông chưng ngoài cửa vào cất trong nhà cho chắc ăn. Thằng Hán vẫn còn mối thù xưa, nó lượm đâu ra được bài vè dạy bọn con nít ngoài lộ hát um xùm:

“Nghe vẻ nghè ve

Nghe vè xóm Cỏ

Trời mưa trời gió

Vác vó đi đơm

Về nhà ăn cơm

Trở ra mất vó

Rõ thật đồ chó

Lấy vó của tao.”

Hai nhà thám tử rầu rĩ lắm. Thằng Còi ngồi tựa cửa, ngửa mặt lên trời buông ra một câu sặc mùi “Tam quốc diễn nghĩa” ra cái điều đau xót lắm, chua chát lắm:

– Than ôi, trời đã sinh Còi sao còn sinh Hán!

Thằng Lượm cũng ỉu xìu như cái bánh tráng gặp mưa:

– Vụ này mà không xong thì tao ăn Tết cũng không nổi. Bọn thằng Hán sẽ không để cho xóm mình yên đâu. Mất mặt quá!

Thằng Lục Vân Tiên nãy giờ đang ngồi bên cửa sổ bện võng, nó đã nghe được hết chuyện của hai đứa kia bèn xen vào:

– Mấy anh có nhận thấy là thằng ăn trộm này chỉ chôm đồ ăn thôi mà không lấy một thứ gì khác không? Nó rất tham ăn, tại sao hai anh không dùng đồ ăn để “điệu hổ ly sơn” dụ nó ra khỏi rừng?

Thằng Còi vỗ mạnh vào đùi kêu cái đét, la lên:

– Đúng rồi, mày thiệt là thông minh y như thám tử Sơ-lốc-hôm thứ thiệt.

Thắng Lục Vân Tiên được khen, khoái chí cười tủm tỉm:

– Vậy tối nay đi canh trộm, mấy anh cho tui đi theo với.

Thằng Còi trợm mắt, bô bô cái miệng làm thằng Lượm đá chân nó không kịp.

– Trời ơi, mày đui mà đòi canh ai. Cho mày theo lỡ có chuyện gì cõng mày chạy không kịp!

– Hổng dám đâu nghe. Chưa biết ai cõng ai! Thằng Lục Vân Tiên trề môi.

– Có phải là tui vừa hiến kế cho mấy anh hông? Tui đui mà cái tai tui thính lắm đó. Con ruồi bay qua nghe tiếng gió thôi mà tui còn biết nó mập hay ốm nữa, nói chi thằng ăn trộm bự chình dình.

Thằng Lượm nhẩy vô giảng hoà:

– Ý kiến của thằng Lục Vân Tiên cũng hay đó. Tao bầu mày làm Gia Cát Khổng Minh nghe. Tối nay ba đứa mình phải tìm cho ra thủ phạm của vụ án này. Còn bây giờ, giải tán!

Chạng vạng tối, thằng Còi đã có mặt ngoài sân đình rồi. Nó lượm đâu ra cái áo lính rằn ri rộng thùng thình lại quẹt thêm hai vệt lọ nồi lên mặt trông cũng dữ dằn lắm. Gặp thằng Lượm dắt Lục Vân Tiên đi ra nó hỏi ngay:

– Mồi đâu?

Thằng Lượm móc gói giấy báo lấy con cá mục chiên đặt bên hiên nhà. Xong rồi chúng nó dắt nhau chui vào bụi bông trang gần đó ngồi chờ. Thằng Lượm còn cẩn thận đem theo chiếc ná bắn thung để canh những con mèo hay ăn vụng cá. Con mèo mướp bên nhà bà Tám cháo vịt đánh hơi thấy mùi cá đã lò mò đi qua. Thằng Còi giành lấy cây ná trong tay thằng Lượm nói: “Để tao!” Nó giương cây ná lên nhắm ngay mông con mèo lia cái bốp! Con mèo đau quắn mông, kêu meo meo chạy mất.

Ngồi một chút nữa thì trời tối mịt. Đêm ba mươi có khác. Trời đất tù mù đen thui, dù rằng con ngõ nhỏ đã được soi sáng thêm bằng ánh đèn của những căn nhà đang thao thức chờ đón giao thừa. Đầu tóc tụi nhỏ đã thấy ẩm ướt sương đêm rơi xuống. Mùi trầm hương ngoại đốt trong ngôi đình toả mùi hương thoang thoảng. Gói mứt gừng cay xè thằng Còi đem theo để nhâm nhi cho tỉnh ngủ cũng đã hết sạch. Trong lúc thằng Cỏi đang gật gù dựa lưng vào bờ tường ngáy ro ro, hai con mắt thằng Lượm cũng đang nhíu vào nhau thì thằng Lục Vân Tiên chợt nắm áo thằng Lượm kéo mạnh:

– Anh có nghe thấy gì không? Tự dưng thằng Lượm bỗng ớn da gà, hỏi nhỏ.

– Nghe thấy cái gì?

– Nó! Nó đó. Thằng ăn trộm đó. Tui nghe tiếng bước chân của nó.

Lượm mở to mắt, ngồi thẳng người nhìn vào trong bóng đêm dầy đặc. Hình như có tiếng rột rạt sau vườn. Thằng Lượm nắm chặt cây chổi lông gà trong tay, chồm người ra phía trước nín thở chờ đợi. Bầu không khí chung quanh trở nên đặc quánh đến khó thở. Nó nghe tiếng tim mình đập bình bình trong lồng ngực. Một bóng đen từ phía sau vườn đang lướt tới, tiến lại gần đĩa cá nục đặt trước hiên. Dưới ánh sáng mờ ảo của đêm ba mươi bóng đen đó chợt dừng lại, xoay nhìn về phía bụi cây nơi tụi nhỏ đang ngồi. Bất chợt bóng đen chồm lên và rít một tiếng rên dài, nó lao thẳng vào bụi cây nơi tụi nhỏ đang ẩn trốn. Thằng Lục Vân Tiên đứng bật dậy. Bóng đen chồm lên người nó và… sủa ăng ẳng mừng rỡ. Thằng Lượm sững sờ, buông rơi cây chổi xuống chân, buộc miệng kêu lên: “Con Vàng!”

Tiếng pháo giao thừa bắt đầu nổ râm ran trong xóm nhỏ xen lẫn tiếng cười nói của hai đứa trẻ đã đánh thức thằng Còi tình giấc. Nó làu bàu tính cự thằng Lượm sao để nó ngủ quên. Nhìn thấy thằng Lục Vân Tiên đang quỳ gối dưới đất ôm con chó yêu quý tưởng đã mất tích trong nồi giả cầy trên bếp của mấy cái quán nhậu rồi. Nó ngạc nhiên vò mớ tóc bù xù lẩm bẩm: “Ủa, con Vàng đây sao. Còn thằng ăn trộm đâu rồi?” Lượm cười xòa vỗ nhẹ vào đôi vai khẳng khiu của thằng Còi thì thầm: “Từ nay không còn ăn trộm nữa đâu. Con Vàng sẽ giúp tụi mình canh giữ cái xóm nhỏ này.”

Bên ngôi đình, cửa chánh điện đã được mở rộng chào đón khách đến cúng lễ đầu năm. Ngoại mặc chiếc áo dài lam đứng bên bàn thờ đốt nhang cúng Phật, lâm râm khấn vái. Mùi nhang thơm tình khiết thoảng lên trong gió làm cho lòng người bỗng nhẹ hẳn đi. Xa xa có tiếng chuông chùa ngân vang chào đón phút giao thừa. Trong không khí thiêng liêng của một năm mới., cả ba đứa cùng đứng lên hướng nhìn về phía ngôi đền thờ. Không bảo nhau chúng tự tìm lấy bàn tay thân thiết của người bạn mình xiết nhẹ. Chậu cúc vàng bên bệ thờ lung linh ánh màu rực rỡ như tâm hồn trong sáng thơ ngây của bọn trẻ.

Có thể về sau này. Năm năm, mười năm, hay sáu bảy chục năm sau… khi chúng còn được ngồi bên nhau để cùng đón giao thừa, chắc chắn câu chuyện kể lại của ngày hôm nay sẽ làm cho những mái đầu bạc vương chút ngậm ngùi. Nhưng trong đời sống đã có mấy ai qua được những giây phút hồn nhiên, tìm được những tình bạn trong sáng chân thật mãi như thế đâu. Nên đối với một ngôi đình cũ trăm năm phơi gió, phơi sương như tôi, là người kể lại câu chuyện này, bọn trẻ ngày ấy là những đứa trẻ thật hạnh phúc trong thiên đường tuổi thơ của chúng.

Nguyên Tú My

Hình ảnh minh họa: Rarindra Prakarsa

Read Full Post »

Tranh: Đỗ Duy Tuấn

Không biết tự bao giờ tôi có thói quen sáng nào cũng nhìn qua mảnh vườn nhỏ bên kia bờ rào.  Mảnh vườn có gốc Sứ già, thân nâu cằn cỗi mà hoa lại mướt mát trắng trinh nguyên.  Những ngày mưa Huế rả rích qua đêm, sáng hôm sau thức dậy dõi mắt qua bên kia vườn để xem đã có nhiều hoa rụng dưới sân không rồi lại mơ hồ tiếc nuối.
Tôi ở trọ trong căn nhà nhỏ nhìn ra hướng sông.  Bên kia sông là những vườn cau cao vút xen lẫn mái ngói đỏ thẫm. Hơn hai tháng nay khi đến thành phố này gần như ngày nào cũng có bão kéo qua. Trời nhiều mây xám, buổi chiều chìm trong cái se se lạnhâm u.  Lần đầu tiên khi đứng từ bên vườn chỉ cách bằng hàng cây mọc dại leo chi chít trên bờ rào đã gợi cho tôi một cảm giác tò mò về khu vườn gần như bỏ hoang ấy.  Có thể vì cái vẻ cũ kỹ của căn nhà xưa mà sau mỗi cơn mưa dường như bao nhiêu rong rêu càng bám thêm chặt lên mái ngói đã ngả màu xanh thẫm theo thời gian.  Chỉ cách có một bờ rào mà nắng bên ấy cũng vàng vọt chơ vơ.  Khu vườn rộng đầy cây ăn quả thiếu tay người chăm sóc nên cây trái còi cọc.  Ban ngày có lũ chim kéo về tìm quả làm tổ dưới những tàng cây.  Đến khi đêm về ánh trăng chiếu những giọt sáng lung linh xuống khu vườn tối khiến tôi chợt thấy có một nỗi bâng khuâng lạ kỳ mơ hồ xâm chiếm.

Quê ngoại tôi ở Huế.  Rời quê từ những ngày còn bé.  Trong ký ức chập chờn của một người xa quê mười lăm năm trời.  Huế chỉ còn lại trong tôi hình ảnh của những đêm mưa dầm ẩm ướt, tiếng hò Nam ai của người mẹ ru con trên chiếc thuyền đậu ngoài bến sông vắng.  Mỗi khi chiều xuống giọng hò buồn chơi vơi trải theo lớp sương rơi bàng bạc cả một mặt sông vọng về cho tôi một nỗi quyến luyến sâu thẳm đến tận đáy lòng của kẻ xa xứ. Trở về Huế lần này, vì vài đồng nghiệp đã từ chối chuyến đi công tác xa về một thành phố buồn tẻ chỉ toàn lăng tẩm mốc rêu và mưa dầm thúi đất.  Dường như có một sự thúc đẩy nào đó đã đưa tôi trở lại mảnh đất này. Và cũng vì đã quá chán ngấy khi phải phác thảo những đồ án chỉ nằm trên bản vẽ của các bộ sách dầy cộp trong thư viện. Quyết định bay ra Huế mong tìm cho mình một luồng sinh khí mới cho những dự án kiến trúc sắp tới mặc kệ cái núi công việc còn đang ngổn ngang trong văn phòng chờ đợi ngày tôi trở về.

Khi mới bước chân đến thành phố, tuy rất đỗi mơ hồ nhưng tôi đã nhận ra bóng dáng của miền đất sâu thẳm này đã in sâu trong tâm khảm tự thưở nào.  Những nẻo đường của ký ức trở về dần theo dòng nước sông Hương có chiếc cầu Tràng Tiền soi bóng, tiếng chuông Thiên Mụ vọng đưa trong chiều như một duyên nợ vô hình đã cho tôi một niềm say mê mới trong công việc.  Lang thang khắp thành phố với những bản phác thảo chi chít hình dọc ngang.  Những nét cong cổ kính của đền đài lăng tẩm phảng phất đầy trong các bản vẽ của tôi.  Xếp gửi một cú điện thoại từ Sài gòn ra nhắn rằng: Cậu sẽ là kiến trúc sư trưởng cho dự án trùng tu ngôi chùa cổ sắp tới!  Chẳng biết đó là lời khen hay chê nhưng tôi vẫn không màng đến.  Cứ xem những ngày đội mưa dầm ở Huế là một cơn bốc đồng nhất thời để thoát ra khỏi chuỗi suy nghĩ nhàm chán, buồn tẻ của sự khô kiệt sáng tạo. Và tôi yêu cái đẹp cổ kính cô độc của Huế như yêu nỗi êm ả quạnh hiu của những ngày như buổi chiều nay.  Một mình lang thang vào Nội thành, đứng ngơ ngẩn trước ngôi đình vắng.  Lác đác vài người du khách đi ngang tò mò liếc qua những bản vẽ của tôi.  Buổi chiều trôi qua thật nhanh. Những bông sen trong hồ ngả màu đỏ thẫm trong chiều muộn.   Xong được nét vẽ cuối cùng, trời đã tối sầm.  Người gác cổng cầm chùm chìa khóa đi vòng quanh điện.  Tiếng kéo cửa vang trong khoảng không gian vắng lặng, những sợi xích sắt va vào nhau tạo thành một chuỗi âm thanh khô khốc nặng nề.  Phố dài vắng ngắt ngâm mình trong mưa, có tiếng hò vọng đưa từ con thuyền trôi trên sông trở về bàng bạc khói sương.  Nghĩ đến đoạn đường trở về mà thầm ngao ngán.  Khoác chiếc áo mưa lên người, tôi dợm bước ra xe.  Một luồng gió lạnh buốt thổi qua lưng làm tôi rùng mình.  Quay phắt lại phía sau.  Dưới ánh sáng vàng vọt của ngôi đền toả xuống từ chiếc bóng đèn treo lơ lửng trên mái hiên, gương mặt của một người con gái nhập nhoạng trong bóng đêm như một ảo giác mông lung chợt hiện ra trước mắt.  Thời gian dường như ngưng lại.  Cả khoảng không trong suốt đọng lên đôi mắt sâu thẳm của người con gái ấy cuốn tôi vào một cảm giác chơi vơi khó tả. Không biết tôi còn đứng như thế bao lâu nữa, nếu cô gái không cất tiếng lên:

– Thưa ông…

Giọng nói của nàng run run thì thầm, đôi môi phác một nụ cười nhợt nhạt lẩn trên khuôn mặt tái xanh có hai lúm đồng tiền thấp thoáng.  Chiếc áo dài trắng phủ trên một nhân dáng mong manh thanh mảnh buông dài xuống chân gây nên một ảo giác mơ hồ không thực.  Lấy lại bình tĩnh, tôi không muốn tạo cho cô nỗi sợ hãi của một người con gái khi đứng trong bóng đêm cùng với người đàn ông lạ mặt.  Tôi cởi chiếc áo mưa đưa cho cô và nói:

– Trời tối rồi để tôi đưa cô về.

Đêm buông xuống thành phố đan kín trong mưa.  Chúng tôi đi ngược chiều gió thốc.  Từng cơn gió lướt qua cánh đồng vắng bên kia sông rít lên từng hồi như tiếng gọi hồn xưa rơi lãng đãng.  Cô gái ngoan ngoãn ngồi sau xe trùm kín người trong chiếc áo mưa.  Trong đêm khuya hoang lạnh, hai đứa chúng tôi không nói với nhau một lời, chỉ có tiếng bánh xe lăn trên đường vắng.  Con đường tối mờ mịt thỉnh thoảng có vài đốm sáng leo lét từ những chiếc am thờ cúng âm hồn ở bên đường.  Trời mưa lớn quá, nước dâng lên ngập cả con đường chính.  Biết không thể nào băng qua được khúc nước dâng này, tôi rẽ vào một con đường dốc nhỏ đi tắt ngang qua nghĩa trang.  Đoạn đường không một bóng người, ngoài những bóng cây tù mù trong đêm và hàng bia mộ trơ trọi im lặng đến rợn người khiến đôi lúc tôi có cảm giác dường như nàng đã chìm mất vào đám sương mù dằng dặc bao quanh. Từ sau lưng tôi, tiếng cô gái chợt cất lên trong gió phảng phất nghe như từ một cõi sâu thẳm nào đó vọng về:

– Nhà em đây nì.

Tôi sững người y như vừa bước ra khỏi cơn mê mị.  Dưới ánh sáng của những dải mưa lấp lánh, khuôn mặt cô gái bị che khuất sau mái tóc ướt sũng, đôi vai nhỏ nhắn chìm lẫn trong màn đêm như một chiếc bóng mờ dần vào vùng ánh sáng hư ảo của căn nhà bỏ hoang bên cạnh nhà tôi.  Bước chân mộng du tôi đi về căn nhà mình.  Chỉ kịp thay bộ quần áo ẩm ướt rồi ngả mình xuống giường, mệt mỏi đưa tôi chìm nhanh vào giấc ngủ có hình ảnh người con gái và đôi má lúm đồng tiền như một vực xoáy sâu thẳm cuốn tôi rơi vào một khoảng không chơi vơi vô tận.

Hồi chuông đồng hồ gõ vào lúc nửa đêm chợt đánh thức tôi dậy.  Cánh cửa sổ trông qua căn nhà bên vẫn mở suốt đêm.  Mưa đã ngừng rơi.  Hương gió mát lạnh đẫm mùi hương hoa sứ quen thuộc thoảng qua.  Tôi dựa vào khung cửa ngước nhìn lên bầu trời mây mờ có ánh trăng non bàng bạc xuống khu vườn tĩnh mịch.  Cây hoa Sứ sừng sững trong đêm vươn trọn sức sống của cả khu vườn ma quái lạ kỳ.  Cảm giác ớn lạnh chợt dâng lên.  Có lẽ dưới trận mưa dầm tối qua đã muốn gây nên một cơn sốt.  Tôi định trở vào giường, bỗng có tiếng sáo trúc vang lên trong đêm vắng réo rắt thiết tha như thắm sâu một nỗi buồn mênh mang.  Qua khung cửa dưới ánh đèn dầu leo lét, chiếc bóng cô gái ngồi thổi sáo đổ dài trong bóng đêm huyền hoặc liêu trai.  Tôi nhắm mắt rồi lại mở ra.  Chẳng còn phân định được thời gian, không gian nữa.  Tôi như một kẻ mộng du  bước chân theo tiếng sáo mê hoặc đang cuốn hút tôi vào một cõi hư vô bất tận, nơi có căn nhà hoang phế, có chiếc bóng trắng của người thiếu nữ trong đêm.  Chập chờn giữa những mê ảo ma mị tôi lần bước vào căn nhà hoang. Khô quạnh, lạnh lẽo trong bóng đêm.  Căn phòng trống trơn chỉ có bộ tràng kỷ bằng gỗ mun lên nước bóng.  Mùi trầm hương thoang thoảng từ bộ tủ thờ kê trong góc phòng.  Bước lại gần nhìn lên bàn thờ, trong ánh sáng mờ nhạt của bóng đêm tôi đứng chết trân trước tấm hình chân dung của một cô gái có đôi mắt sâu thẳm đặt trên bàn thờ bên cạnh là một ống sáo trúc.  Tôi nghe văng vẳng có tiếng sáo triền miên  trôi theo gió bay xa ngoài sông vắng bám vào những mảnh trăng khô vỡ vụn thành từng mảng sáng chói lòa trong mắt.  Và trời đất chợt tối sầm trước mắt tôi.  Tôi thở hắt, mặt mày xây xẩm.  Trước khi ngã xuống tôi còn nhận thức được có một bóng trắng lướt đến bên tôi, rồi tất cả chỉ còn lại một màu đen thẫm.

Không biết thời gian đã trôi qua bao lâu.  Khi tôi tỉnh dậy đầu óc vẫn còn bồng bềnh lãng đãng. Cơn nhức đầu váng vất đâm nhói vào óc sau cái cựa mình đầu tiên.  Không khí sực mùi dầu tràm the ấm phảng phất tiếng nhạc nhẹ nhẹ của một bài hát quen thuộc từ chiếc máy trên đầu tủ.  Người tôi ủ kín trong chăn ấm áp thật dễ chịu.  Tôi nhướng mắt nhận ra mình đang nằm trong một căn phòng lạ.  Cạnh giường là cái bàn nhỏ có một bình sứ trắng cắm một cành hoa Hồng đỏ thẫm.  Trên bàn còn vài mảnh giấy đang viết dở dang những dòng nhạc của một bản hòa âm nào đó.  Ánh sáng buổi sớm mai tràn qua song cửa đong đưa những giọt thủy tinh vàng sẫm trong suốt lên ly nước để cạnh giường.  Đưa mắt nhìn lên tường, một bức tranh vẽ chân dung treo cô độc trên vách.  Trong tranh là một cô gái mặc áo dài trắng ngồi nghiêng bên cành bông Sứ, tóc xõa liêu trai che nửa khuôn mặt, tay cầm ống sáo trúc hờ hững buông lơi.  Đôi mắt sâu thăm thẳm của cô như vừa từ cõi mơ hoa bước ra cứ muốn thu hút lấy tâm hồn tôi.  Bỗng cánh cửa phòng hé mở tiếng kẹt cửa khô rỉ.  Cô gái tối qua bước vào nhẹ nhàng đến bên giường.  Tôi nhìn sững vào đôi mắt đen nhánh, có một sức thu hút lạ kỳ.  Một nỗi rung động bất ngờ chợt đến chỉ trong giây phút định mệnh của cuộc đời khi người ta bỗng khám phá ra đâu đó có một phần của chính mình trên ánh mắt, môi cười của một người khác.  Hơi thở nghẹn lại, tôi nhìn cô gái trân trối.  Nàng cười chúm chím hai lúm đồng tiền xoáy tròn trên đôi má phơn phớt hồng.  Đặt tô cháo bốc hơi nghi ngút khói xuống bàn, nàng xuýt xoa vì nóng, vành môi trễ xuống hờn dỗi:

– Mần răng mà trố nhìn người ta… dị rứa!

***

Người đàn ông chợt ngưng câu chuyện kể dở dang, mỉm cười lại gần khung cửa sổ nhìn ra ngoài khu vườn ngập nắng có cội hoa Sứ đang nở bung những cánh trắng mượt mà.  Khu vườn trải đầy sỏi lạo xạo theo tiếng cười trong vắt của một đứa bé trai khoảng sáu tuổi nét mặt giống hệt ông nhưng lại mang đôi mắt sâu thẳm của người phụ nữ đang chạy đuổi theo nó quanh vườn.  Đôi mắt ông chợt ấm hẳn khi dõi theo người phụ nữ và nói với tôi:

– Đừng hỏi tôi tại sao nghe.  Phụ nữ có đôi mắt như vậy thì chuyện gì mà họ không nghĩ ra, xá chi cái chuyện tráo tấm hình ông cố trên bàn thờ rồi thế vào đó bằng tấm hình của cổ để dọa ma cho tôi một trận ốm xanh xao mặt mũi!

    Nguyên Tú My

Read Full Post »

Em Nhồng

Tranh: Ái Lan
Nhà tôi ở cạnh con sông chảy dài từ ngã ba Thiên xuống phía chân cầu Đá, rẽ ra thành hai con rạch nho nhỏ. Chiều chiều dập dình đám dừa nước buông lá rơi là đà xuống mặt nước trong veo. Ban đêm con sông lững lờ trôi soi bóng trăng khuya. Thỉnh thoảng có những chiếc ghe đánh cá đi qua buông mái chèo khua theo giòng nước. Hương sông lẫn mùi gắt của gió và nắng bám chặt trong tóc của những đứa trẻ đang ngụp lặn, đắm mình ngoài bến sông ấy.

Tuổi thơ của tôi thật thú vị và đáng nhớ. Chiều chiều bọn trẻ chúng tôi thường hay leo vắt vẻo lên những nhánh cây là đà ngoài bến sông rồi bông nhông ùm ùm xuống, nước văng tung toé. Nước sông trong vắt, hồn nhiên như đám trẻ sống bên cạnh nó. Con nít vùng sông nước đứa nào cũng lội như nhái. Đứa này dạy đứa kia. Thay nhau uống nước vài lần là tự nhiên nổi như phao. Nhiều đứa nóng nảy muốn bơi sớm, rủ nhau đi bắt chuồn chuồn cho cắn đau muốn rụng rún luôn. Học trò của tôi là con nhỏ cạnh nhà. Nó nhỏ hơn tôi mấy tuổi. Dù biết đó không phải là tên cúng cơm của nó, nhưng không hiểu ba má nó nghĩ sao mà đặt cho nó một cái tên nghe nhức óc. Chiều nào tôi cũng nghe má nó réo ơi ới. Nhồng ơi, Nhồng à! Tên y như người. Cái miệng xoèn xoẹt của nó làm tôi nhớ đến con nhồng xanh của chú Tàu bán chạp phô ngoài chợ mà mỗi lần theo mẹ lên cất hàng nó cứ nheo nhéo: “Phong ơi, Phong à, có khách, có khách!” cái giọng lanh lảnh y như em Nhồng hàng xóm nhà tôi. Nhiều lúc tôi tự hỏi không biết ai lột lưỡi cho nó mà sao cái miệng lắt léo quá vậy. Nó nói liền miệng chỉ trừ lúc xuống nước. Hôm đầu tiên tập bơi, tôi khiêng cây chuối thả xuống sông rồi biểu nó ôm thân chuối mà đạp chân. Con nhỏ vậy mà chết nhát, nó không ôm thân chuối mà cứ níu riết lấy tôi. Nên khổ sở lắm tôi mới tập được cho nó nổi cái đầu ngoi lên còn cái phần dưới thì chìm lỉm. Tôi đứng nhìn nó bơi mà mắc cuời bắt chết nhưng vẫn ráng làm nghiêm. Nó là học trò của tôi mà. Chê nó thì chẳng khác nào chê tôi.

Nhà nó xéo bên rào. Qua đám bông bụt lưa thưa những bông đỏ, bông vàng là khu vườn đầy cây ăn trái. Những buổi trưa hè, gió từ dưới sông thổi lên mát rười rượi đem theo mùi ổi chín lừng qua tận bên này. Ngày mới dọn đến, tôi đang ngồi vắt vẻo trên võng đọc Tam Quốc Chí (thừa hưởng cái “bệnh” của ông nội và ba tôi, tôi thích đọc truyện Tàu ngay từ lúc học tiểu học). Đang tới hồi gay cấn, Lữ Bố hí Điêu Thuyền, có một trái ổi xanh lè ném bụp ngay trước mặt. Tôi nhìn lên. Một đứa con gái ngồi vắt vẻo trên cây bên kia rào, nhe hàm răng sún một bên hỏi trống không: “Đọc gì vậy?”. Tôi trừng mắt không trả lời. Con nít hỗn hào, ăn nói không biết thưa gửi với “nguời lớn”. Giả bộ làm lơ cúi xuống như đang đọc mà mắt tôi vẫn liếc qua bên kia rào. Nó nhanh như sóc. Chớp mắt đã tuột xuống cây, chui lổ rào sang bên nhà tôi trên tay cầm mấy quả ổi chín rực cười toe toét: “Cho anh nè, ăn đi anh, ổi nhà em ngon nhất vùng này”. A ha, lần này nó nói chuyện có chủ từ túc từ đàng hoàng, chịu gọi tôi bằng anh và lại xưng em ngọt xớt, nên tôi cũng bỏ qua tội vô phép lúc nãy mà cầm trái ổi trên tay nó. Buổi đầu gặp gỡ hai đứa ăn ổi trừ cơm. Chiều về ba thấy tôi ngồi chống đũa bèn hỏi: “Cái thằng hôm nay sao vậy cà?”. Má tôi cười cười không nói. Không lẽ tôi nói với má rằng tôi no vì hai cái lỗ tai đã nhét đầy ứ những chuyện trên trời dưới đất của nó. Rồi để cho má tôi biểu, nói không thích sao cứ ngồi nghe!

Sau ngày hôm đó nó bắt đầu theo tôi đi cùng làng khắp xóm. Trời đất, con gái mà phá còn hơn con trai. Nó chỉ bó tay lúc xuống nước thôi. Còn trên bờ tôi phải gọi nó bằng …sư mẫu! Cây ổi cành ốm yêu mỏng mảnh mà nó leo ngoăn ngoắt. Cũng may đó là cây ổi, nhánh nhỏ mà dai, gặp thứ cây khác không biết nó đã bị bó bột không biết mấy lần. Mấy trò chơi con trai bắn bi, chọi tiền nó cũng không tha. Tôi biểu nó, chỉ cần cắt đi mái tóc dài đen nhánh đầy mùi hương hoa ổi thì tôi với nó sẽ làm anh em kết nghĩa vườn đào như mấy ông râu dài thườn thượt trong truyện Tam Quốc diễn nghĩa. Nó bò ra cuời hăng hắc khi nghe tôi nói. Nhưng cũng ráng chẩu mỏ cãi lý, “Mấy ổng râu dài, còn em tóc dài có khác gì đâu”. Tôi gật gù. Ờ hén, thương nhau thì sao cũng thương đuợc đâu phải chỉ có râu dài tóc ngắn mới thương. Tôi đổi ý, Nhồng đừng cắt tóc thì anh thương hoài (nói y như thiệt!). Nó giương con mắt tròn xoe, đưa ngón tay út nhỏ xíu ra bắt tôi ngoéo tay thề độc. Lần đầu tiên tôi thấy nó không cười, ánh mắt nghiêm trang chi lạ. Bữa hôm đó thay vì uống rượu thề nguyền dưới ánh trăng tà như trong phim bộ Hồng Kông, hai đứa tôi uống nước lã ăn ổi căng phè cái bụng dưới bóng cây đầy hoa nắng. Buổi tối tôi lại nhịn cơm, bụng căng cứng đầy nước lạnh và ổi chín. Tào Tháo chưa rượt tôi hôm đó cũng còn may. Cái bụng thấy xót xa chi lạ. Nhưng lại thấy vui vui, vừa túm được đứa em kết nghĩa đáng đồng tiền.

Con nhỏ cũng lạ. Có nhiều hôm ngồi dưới gốc dừa sau nhà, tôi kể cho nó nghe những mẫu chuyện mà tôi đọc trong bộ tuyện Tam Quốc Chí, nó nghe say sưa không chớp mắt. Cái miệng nó nói chuyện vui và hay lắm. Nhưng nhiều lúc cũng làm tôi bực mình. Mấy tháng sau Tết, tôi thường cùng mấy đứa bạn trai ra mấy miếng ruộng gần nhà đi lùng dế. Con Nhồng cũng không để bọn tôi yên thân. Con nhỏ thật tài tình, làm gì làm, nó cũng rình ở đâu đó để đi theo. Không biết nó cố ý hay vì vụng về lóc chóc, đi bắt dế mà nó đi như lính diễn binh, không bao giờ nó đi êm hay nhẹ nhàng hơn được. Vừa thoáng nghe tiếng dế gáy đàng xa, nó đã vội vàng chạy về hướng đó. Nếu tôi kịp nắm tay nó kéo lại thì với cái miệng xoèn xoẹt của nó cũng làm con dế tốt số im bặt. Tụi tôi chỉ còn cách lấy cây đập túi bụi hay lấy chân đá mấy cục đất cho hả tức, và cũng để hy vọng một con dế xấu số nào đó xuất đầu lộ diện. Mặt con Nhồng xịu lại, “Em không biết, lần sau em sẽ đi nhẹ hơn chút”. Có một lần tụi tôi phát hiện ra một cái hang dế, miệng hang nhẵn bóng có lẽ vì chủ hang đi qua đi lại nhiều nên đã thành đường mòn. Hang lớn, chắc là hang của dế gộc đây! Tôi biểu thằng bạn chạy ra cái mương ở gần đó lấy nước. Con Nhồng xung phong đi múc nước. Chỉ một thoáng, nó đã trở về với hai lon sữa bò đầy ắp nước, nước sình đục ngầu, miệng cười tươi rói. Bọn tôi xúm nhau chế nước vào hang. Trời nắng chang chang, đất khô và cứng, phải đến lon thứ năm miệng hang mới bắt đầu ứ nước lại. Cả đám, ba trai một gái, ngồi chồm hổm vòng vòng miệng hang để chờ… thời và để chăm nước vào hang. Năm phút, rồi mười phút. Con dế này phải vào hạng lì đây. Nhưng cuối cùng thì chú dế cũng cảm thấy ngột ngạt, đưa hai cái râu lên khỏi mặt nước. Con Nhồng mừng quá la toáng lên, “À, mày đây rồi, cái đầu bự thiệt anh ơi”. Con dế than vừa ló cái đầu đen nhánh lên khỏi mặt nước, nghe tiếng la của Nhồng, vội thụt xuống. Con Nhồng không kiên nhẫn được nữa, nó vội vàng đưa hai ngón tay chụp thật nhanh. Nó hơi mạnh tay, khi nó cầm lên thì cái đầu dế đã gần đứt lìa ra khỏi cái mình. Con nhỏ bị tụi tôi đuổi về ngay sau đó. Phải bỏ về, nhưng nó còn ấm ức hay sao mà vừa đi vừa lầm bầm rủa tôi là sao không thương nó. Không có con Nhồng đi theo, buổi chiều hôm đó tụi tôi cũng bắt được năm con dế trống và hai con mái. Trước khi về nhà, tôi ghé ngang nhà của Nhồng đưa cho nó hai con dế mái. Nó không biết giận là gì, lại bắt đầu “mở máy”, nói tía lia. Có lẽ nó vui vì thấy tôi không giận chuyện nó phá đám lúc trưa, hay là tại vì lúc đó cứ tưởng là dế mái cũng biết đá như dế trống? Ngày hôm sau, nó chạy qua nhà tôi, hỏi “Sao mấy con dế anh cho nó không chịu đá!”. Tôi ráng cắn hai hàm răng lại để đừng phì cười trước mặt nó, “Đưa đây anh coi, để anh quay một chút là nó sẽ đá như điên cho coi”. Tôi thương cái ngây thơ và tính tình dễ chịu của con Nhồng ghê hồn.

Hình như từ lúc quen Nhồng tôi đi chơi nhiều hơn. Hai đứa tôi học chung trường. Năm tôi học lớp 7 thì nó mới lên lớp 4. Buổi sáng dành cho các lớp trung học, và các lớp tiểu học buổi chiều. Cũng nhờ vậy, buổi chiều ở nhà tôi cũng “yên thân” được một chút. Chỉ mới quen nó vài ngày, tôi đã xem nó như đứa em gái ở nhà. Hơn nữa, hai đứa đã uống nước lã ăn ổi thề rồi còn gì. Quân tử nhất ngôn. Đi đâu tôi cũng dắt nó theo sau như hình với bóng. Những lúc chơi đánh trận với lũ bạn trai, nó lon ton đứng ngoài cầm kiếm cho tôi. Đôi lúc tôi ra oai gọi “Quân sĩ đâu?” là cái miệng nó “Dạ!” to hết biết làm mấy thằng bạn ganh tị vì không có quân mà sai vặt như tôi. Con nít ở nhà quê có nhiều trò chơi thật vui và thú vị. Mấy đứa ở thành thị không được hưởng những trò chơi này. Mùa hè cũng là mùa mà bọn con trai thả diều. Con Nhồng nhập bọn với tụi tôi cũng học thêm đuợc nhiều thứ. Và mặc nhiên bọn tôi xem nó như một đứa em. Tôi cũng bỏ thời gian để làm cho nó một con diều. Đúng là con gái, nó đòi tôi phải làm một cái diều gắn đầy nơ hồng trên đuôi. Tôi còn cẩn thận gắn thêm vào một miếng sáo trúc nho nhỏ. Chiều chiều, khi ánh nắng rơi nhạt nhòa phía bên kia con sông chúng tôi đem diều ra thả. Nhồng thích nghe tiếng sáo vi vu trong chiều vắng. Những lúc ấy nó chợt yên lặng, ngồi mơ màng dõi theo hình bóng của những cánh diều in bóng trên nền trời. Đôi mắt nâu nghịch ngợm thường ngày bỗng chợt tím theo ráng chiều tà. Nhìn em tôi có cảm giác Nhồng đang chơi vơi ở một thế giới nào khác chỉ có hoa và bướm.

Hai đứa tôi ở gần nhau, và đi chơi chung với nhau như vậy cho đến năm tôi học xong lớp 12. Em Nhồng càng lớn càng thông minh hơn, và ít nói hơn lúc nhỏ. Nó lại có thêm cái trí nhớ thật tài tình. Mấy cuốn truyện Tàu trong tủ sách của ông nội tôi nó mượn về đọc gần hết, và nhớ vô số điển tích trong đó. Nó bắt đầu mê truyện Tàu cũng vì tôi. Lúc chúng tôi mới quen nhau, có những buổi trưa cuối tuần, nó chui rào qua nhà tôi như thường lệ và nhảy phóc lên cái võng sau nhà, được căng giữa hai gốc dừa. Nghe tôi kể chuyện Gia Cát Lượng dùng kế “không thành” để lừa phe địch, hay những cuộc đấu trí vô tiền khoáng hậu với Chu Du, tôi có cảm tưởng là nhiều lúc nó… quên thở để lắng nghe. Có đoạn nó khoái chí quơ chân múa tay đến nỗi từ trên võng té lăn xuống đất.

Gần nhà của Nhồng và tôi là một cánh đồng trống. Cánh đồng vào mùa mưa nước nổi mênh mông, trắng xóa, nhưng ra mùa nắng thì đất khô đến nứt nẻ. Qua khỏi cánh đồng là một rừng cây có nhiều cây lớn nhỏ và dây leo chằng chịt mà người chủ cố tình để nó ở tình trạng hoang dã. Đó cũng là nơi mấy ông già trong xóm đến bẫy chim. Từ sáng sớm, mấy ông vác chiếu, ghế xếp, hai ba cái lồng chim và vài con chim mồi đến đó ngồi rình rập cho tới chiều tối. Lồng chim của mấy ổng có hai ngăn, một bên cho con chim mồi đứng hót líu lo và bên kia dành cho nạn nhân của nó. Mấy con cu đất hay sáo được dùng làm chim mồi phải là những con hiếu động và hót hay. Mấy con chim bị sập bẫy thường là mấy con háu đá hay bị hấp dẫn bởi tiếng hót mê hồn của con chim mồi khác giống. Tôi đi theo mấy ổng để học nghề và có ý định kiếm một con chim về cho em Nhồng. Thương nó thì nó thương thật, nhưng không phải vì vậy mà tôi chịu khó ngồi gác mấy cái lồng chim với mấy ông già, chỉ vì cái tên nghe nhức óc của nó mà tôi đã nghĩ ra ý định này. Đi theo mấy ổng, phải biết kiên nhẫn, ngồi hàng giờ, tay chân ngứa ngáy khó chịu cũng phải ngồi yên. Ngồi núp sau bụi cây, có lúc tôi muốn ngủ gục. Đến buổi chiều thứ ba thì ông già hàng xóm bẫy cho tôi được một con nhồng xanh đuôi dài, có chùm lông cong vút trên đầu đẹp hết biết. Ổng chỉ con chim rồi vỗ nhẹ trên đầu tôi, “Con nhồng này hiếm lắm nghe mậy, lông mướt đuôi dài như vầy không dễ kiếm đâu”. Không có sẵn lồng ở nhà, tôi phải nhốt tạm con nhồng trong hai cái rổ tre úp ngược. Tôi và Nhồng đi xin tre của mấy người trong xóm. Hai đứa đã cặm cụi ba bốn ngày vót tre và đan cho con nhồng xanh một cái nhà. Tôi cho Nhồng con chim này vào dịp Nhồng vừa được mười một tuổi. Con nít thời đó, ở tuổi mười một mười hai còn ngây thơ hơn bây giờ nhiều. Con Nhồng có vẻ cưng con chim vô cùng, nhiều lúc tôi đứng rình nghe nó nói chuyện với con chim mà không nhịn được cười. Duyên dáng, và hình như nó còn lanh hơn cả con nhồng thứ thiệt. Con nhỏ này lớn lên chắc cho nó đi rao hàng ở hội chợ, hay nếu sang hơn một chút, cho nó đi làm xướng ngôn viên chương trình văn nghệ chắc là ăn khách lắm.
Tranh: La Vuong
Những mùa mưa đi qua. Bao nhiêu trận mưa đổ xuống con sông mãi đầy vơi. Chúng tôi cùng nhau lớn lên bên cạnh bến sông ấy. Mặt nước không còn lững lờ trôi êm ả như những năm tháng còn thơ ấu. Bến sông nằm sau cù lao khuất gió trở thành nơi của những chiếc ghe buôn ghé bến nghỉ ngơi. Dần dần nguời đến tụ họp buôn bán kín cả một góc sông. Trời tờ mờ sáng những chiếc ghe chất đầy hàng đậu dài ngoài bến xôn xao tiếng nói cười khuấy động cả con sông. Lớp sương mù mênh mang trong buổi sớm mai quyện với mùi rau trái hoa quả biêng biếc ngạt ngào hương đồng nội. Chiều đến, những chiếc ghe rời bến làm nuớc đục hẳn đi. Mặt sông đầy rác rưởi lềnh bềnh tắp vào hai bên bờ ngầu đục. Tụi con nít bây giờ chê sông dơ nên rủ nhau đi hồ bơi cho sạch. Hai đứa tôi cũng không còn ở cái tuổi tắm sông nhưng thỉnh thoảng vẫn dắt nhau ra ngoài bến ngồi nhìn con nuớc chảy tha thiết mà nhớ về những ngày xa xưa ấy. Chỗ chúng tôi ngồi vẫn luôn dưới gốc cây ổi tán loà xòa che kín mặt đất, nơi có mùi hoa ổi thoang thoảng ngọt lịm. Và càng nồng nàn hơn nữa khi Nhồng đến ngồi bên tôi. Ngày trước, khi còn bé, mỗi lần nghe tôi kể chuyện ma là em xáp lại ngồi sát rạt bên tôi. Nhưng bây giờ càng lớn cái khoảng cách giữa chúng tôi hình như xa dần. Đến một ngày tôi chợt nhận ra rằng lúc nào Nhồng cũng ngồi cách xa tôi cả một sải tay, lúc đó tôi mới giật mình nhìn ra … em Nhồng nhỏ bé của tôi ngày nào giờ đã thành một thiếu nữ đương thì. Cho dù có đôi lần tôi cố ý kể những câu chuyện ma thật rùng rợn, em vẫn không chịu ngồi sát cạnh tôi nữa. Em đã có cái nét e ấp, thẹn thùng của cô gái mới lớn khi gần bên tôi. Nhìn cái dáng ngồi bó gối tay tì vào cằm của Nhồng, tôi hiểu tuổi thơ hồn nhiên của chúng tôi đã trôi theo dòng sông đi về một nơi xa lắm rồi.

Truớc ngày đi học xa trên thành phố, tôi đưa Nhồng đi coi hát ở bên phố chợ. Hôm đó nhìn màu nắng vàng rực rỡ trên đôi má hồng con gái nồng nàn trói buộc bỗng dưng tôi muốn nắm lấy tay em để nói một câu gì đó, như đã có một lần tôi nói với em duới gốc ổi đầy hoa nắng. Nhưng không hiểu điều gì đã níu giữ tôi lại. Buổi tối khi đưa em về trên con đường rập rờn ánh trăng khuya. Ngồi sau xe em hát nho nhỏ, giọng hát nghe ngọt ngào bồng bềnh như khói như sương. Tôi hỏi em sao không thi vào đoàn hát của tỉnh. Em cuời khúc khích, đời đào hát nay đây mai đó làm sao lo cho chồng con đuợc hả anh. Một nỗi buồn vô cớ xâm chiếm lan man đau nhói trong lòng không thể giải thích đuợc. Tuổi thơ của chúng tôi không còn nữa. Rồi đến một ngày em sẽ xa tôi đi làm dâu nhà người. Em sẽ bận rộn bên chồng mà quên đi quãng đời thơ ấu bên con sông có cánh diều của tôi và em trên nền trời tím ngắt. Tiếng hát em chơi vơi … ai đem con sáo sang sông để cho con sáo sổ lồng bay xa … Ngày hôm sau tôi giã từ bến sông.

Ngày mới lên thành phố, công việc, học hành mọi thứ đều mới mẻ. Cuộc sống bận rộn và nhiều cám dỗ nơi đô thành đã làm cho tôi quên dần nỗi nhớ về bến sông xưa với hình ảnh của nguời con gái có mái tóc nồng nàn hương hoa ổi. Những điều đó chưa bao giờ tôi kể cho Lan, nguời yêu của tôi nghe. Cũng như chưa bao giờ tôi nói với Lan về chiếc vòng bạc em đeo trên tay mà Nhồng đã mất cả buổi sáng cùng tôi đi khắp phố tỉ mỉ chọn chiếc đẹp nhất để làm quà tặng sinh nhật cho Lan. Ngày hôm đó đi bên tôi Nhồng cười nói huyên thuyên, vẫn liếng thoắng như ngày nào. Nhưng em lẫn tránh ánh mắt tôi. Em giúp tôi gói hộp quà và gắn chiếc nơ hồng xinh xắn lên trên. Khi trao cho tôi gói quà tôi thấy mắt em ngấn nước. Nhồng đã khéo léo giấu đi cái tình cảm của mình cho đến ngày hôm ấy. Mùa Hè khi má lên thăm, má hớn hở khoe tôi tấm hình của Nhồng chụp trong đoàn hát của tỉnh. Tim tôi nhói đau khi nhìn thấy mái tóc cắt tém nghịch ngợm kiểu con trai. Em cười thật tươi, thật duyên dáng nhưng tôi không nhìn thấy bóng dáng em Nhồng của tôi ngày nào nữa. Tôi chợt nhớ đến lần mà tôi đùa ghẹo Nhồng, biểu em cắt tóc ngắn đi để làm anh em kết nghĩa vườn đào. Má nói trước ngày đi, em thả con chim nhồng xanh tôi đã cho em ngày trước và đem trả lại cho tôi chiếc lồng chim bằng tre mà hai đứa đã cặm cụi đan mấy ngày trời. Con nhồng xanh lởn vởn ở sau vườn mấy ngày không chịu bay đi. Tim tôi như thắt lại. Tôi bàng hoàng nhận ra ngoài cái tình cảm của một đứa anh dành cho cô em gái, còn có một thứ tình cảm khác quyện vào mà ngày ấy tôi đã không định hình đuợc. Rõ ràng tôi đã mất đi điều gì quý báu lắm, từ lúc em Nhồng bỏ đi hát cho đoàn văn nghệ của tỉnh, nhưng mãi đến hôm nay tôi mới hiểu rõ chính mình.

Tôi mất ngủ liền những ngày sau đó. Nằm yên trong căn phòng vắng không trò chuyện cùng ai. Lan đến tìm hẹn gặp tôi ở một quán café quen thuộc. Quán vắng nhìn ra con sông nước ngầu đục. Trời nhiệt đới chợt mưa chợt nắng. Mưa rơi ngoài trời buồn mênh mang. Lan giận dỗi bảo tôi, anh cứ lan man như thế thì chẳng bao giờ giữ được điều gì cả, rồi có ngày anh sẽ mất cả em. Lan xõa tóc nghiêng nghiêng trong mưa hát nho nhỏ một bài hát ngoại quốc …Goodbye Michelle … my little one. You gave me love and helped me find the sun … Chiếc vòng bạc lấp lánh theo nhịp tay em gõ nhẹ trên chiếc ly thủy tinh. Tôi nhìn thấy có đôi mắt nâu mang cả một trời thơ ấu tha thiết trong mưa. Tôi ngửi thấy có mùi ổi chín phảng phất trong vườn, tiếng nói cười của những đứa trẻ ngụp lặn ngoài bến sông và điệu lý con sáo của đêm trăng hôm nào. Tôi bàng hoàng chợt nhận ra những vật lộn, bon chen của cuộc sống đã làm tâm hồn khô cằn, ngay đến cả đắng cay hay hạnh phúc cũng trở nên tầm thường nhạt nhẽo. Tôi tưởng mình đã hoàn toàn lãng quên khu vườn nhỏ có mùi hoa ổi nồng nàn. Và chợt thoáng xót xa khi thấy mình đã quên đi nơi ấy nhiều quá.

Sau buổi chiều mưa hôm ấy, tôi và Lan chia tay nhau. Nhẹ nhàng không vương vấn như là một điều tất nhiên phải xảy ra. Mùa Hè, tôi trở về thăm nhà. Chiếc lồng chim chập chờn trong gió. Nhưng không còn nghe tiếng chim nhồng ríu rít như ngày nào. Tất cả vẫn còn đây, trơ trọi trống vắng đến lạ lùng. Tôi nhớ tiếng em cuời trong nắng, hồn nhiên. Tình yêu tôi dành cho Nhồng giống như một cây kết trái sai mùa, hay cũng như một đóa Hồng nở muộn. Tôi chợt hiểu và thấm thía, người ta chỉ thật sự thấy trân quý những vật mình đã đánh mất, đã vuột khỏi tầm tay. Tình yêu không thể mang đi so sánh với một vật nào đó. Cảm giác mất mát còn sâu lắng hơn nhiều. Lần này tôi trở về nhà sớm hơn những năm trước và như một người đang chờ đợi, mặc dù không biết rõ là mình chờ đợi gì. Trời hôm nay đầy gió. Tôi đứng lặng bên bờ sông nhìn con nước dập dình vỗ nhẹ sóng vào hai bên bờ. Con sông không còn rộng lớn như mắt nhìn của những ngày thơ ấu. Bỗng nhiên tôi thèm được ngụp lặn đắm mình trong giòng nước để được thấy mình trở về với tuổi thơ có tôi và em, hồn nhiên cầm tay nhau nghe tiếng sáo diều vi vu trong gió. Gốc cây ổi ngày xưa của chúng tôi vẫn còn toả bóng mát. Con sông vẫn êm đềm trôi cuốn đi những rác rến vô thường của đời sống. Thơ ấu trôi qua theo giòng đời cuồn cuộn chỉ còn lại tôi đứng nơi đây, một mình, trong chiều vắng với nỗi nhớ vô vàn. Tôi ngước nhìn lên bầu trời xanh thẵm. Những cánh diều đang bay sóng sánh tràn trề trên khoảng trời bao la. Có cánh diều tuổi thơ nào mang theo mùi hương hoa ổi quyện nỗi nhớ thương gửi đến cho em tôi, Nhồng ơi!

Nguyên Tú My – Quỳnh Thy

Read Full Post »

Older Posts »